Dấu ấn xứ Thanh Trên đất Quảng Nam

Con người Quảng Nam – Quá khứ, Hiện tại.

Tài nguyên phong phú, vị trí chiến lược quan trọng là hai yếu tố để Quảng Nam trở thành vùng đất bị tranh chấp và người dân Quảng Nam phải gánh chịu nhiều hậu quả của những diễn biến lịch sử của đất nước để trưởng thành.

Phần lớn dân cư Quảng Nam là người Việt có nguồn gốc từ miền Bắc và Thanh Hóa. Ðó là những con người có ý chí và bản lãnh chấp nhận những khó khăn của cuộc sống phiêu lưu và khai phá. Ðó là những con người có tinh thần phóng khoáng, không chịu những áp bức bất công của thời kỳ Vua Lê Chúa Trịnh suy vi, xã hội miền Bắc hỗn loạn nên tìm cách chống lại để bảo vệ tự do và phẩm giá . Ðó cũng là những con người nhận trách nhiệm lịch sử, đội quân tiên phong của Chúa Nguyễn vào Nam trấn thủ và mở mang bờ cõi.

Có thể nói cộng đồng những người khai phá vùng đất mới Quảng Nam là những con người bản lãnh và khát vọng, giàu tinh thần đấu tranh, được tôi luyện trong gian khổ và trưởng thành trong chiến đấu khắc phục những khó khăn từ thiên nhiên và do lịch sử đem lại.

Làng gốm Thanh Hà – Quảng Nam.

Có nguồn gốc Thanh Hoá, làng gốm Thanh Hà được hình thành từ cuối thế kỷ 15 và phát triển mạnh cùng với cảng thị Hội An trong các thế kỷ kế tiếp. Sảm phẩm gốm Thanh Hà được làm từ nguồn nguyên liệu chính là đất sét bởi những bàn tay điêu luyện của nghệ nhân và kỹ thuật truyền thống của làng nghề. Sản phẩm chủ yếu là các đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, chum, vại, bình hoa, chậu cảnh, hình thù các con giống … mang nhiều kiểu dáng, màu sắc rất phong phú và đặc biệt nhẹ hơn so với các sản phẩm cùng loại của những địa phương khác.

Cho đến nay, làng gốm Thanh Hà vẫn tồn tại và hoạt động sản xuất thủ công với phương tiện và kỹ thuật truyền thống. Chính vì thế làng gốm Thanh Hà trở thành một bảo tàng sống, một nguồn tư liệu quý giá cho các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu về nghề gốm cổ truyền của Việt Nam nói riêng cũng như của vùng Đông Nam Á nói chung.

Làng gốm Thanh Hà nằm ngay bên bờ sông Thu Bồn, thuộc địa bàn xã Cẩm Hà – thị xã Hội An, cách khu phố cổ khoảng 2km về hướng Tây. Đến thăm làng, ngoài việc tho sức lựa chọn các sản phẩm lưu niệm bằng gốm, du khách còn được tận mắt chứng kiến những thao tác điêu luyện từ những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề này.

Họ Lê ở Quảng Nam.

Năm 1470, Lê Thánh tông tiến quân vào phía nam trấn áp người Chiêm quấy rối biên thùy, đổi đặt xứ Thuận Quảng làm thừa tuyên Quảng Nam. Khi đạo quân rút về miền Bắc, nhà vua để lại một số tướng lĩnh, văn chức làm nhiệm vụ cái quản miền đất mới, ổn định, giúp dân khai hoang phục hóa, trong đó có những hoàng thân quốc thích sau này là khởi tổ của những chi phái nổi tiếng như Lê Tấn Triều, Lê Tấn Trung, con trai vua Lê Thái tông và bà Ngô Thị Ngọc Xuân tức Thung (chị ruột Ngô Thị Ngọc Dao đẻ ra Lê Thánh tông). Các chi phái họ Lê ở Quảng Nam hiện còn truyền lại nhiều gia phả, như Hoàng Lê ngọc phả, gia phả dòng Tư Tề (con trưởng Lê Lợi), gia phả dòng Lê Khiêm, v.v… Nói chung các gia phả đều ghi rõ nguồn gốc, thế thứ, có gia phả ghi chép ngay từ thời mới định cư (1471) như phả tịch của Cao thượng tổ Lê Hoàn, sao lại năm 1907, đời vua Duy Tân, chép rất cụ thể con cháu ông tới 14 người đều trở thành tiền hiền ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Căn cứ gia phả và sự thờ tự ở nhà thờ đại tôn họ Lê, chúng ta có thể tin cụ Lê Thứ chính là Triệu tổ, tức vị tổ đời thứ năm của Lê Thái tổ. Vị tổ này chỉ được thờ ở từ đường riêng của dòng tộc họ Lê, không được thờ ở nhà Thái miếu Đông Kinh và Lam Kinh, nên sử sách không ghi chép (Vì Lê Thái tổ chỉ truy phong đến tổ ba đời).

Tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê, Hoà Tiến, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng

Tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê, Hoà Tiến, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng vừa tổ chức “Lễ kỷ niệm 450 năm ngày ông Thủy tổ Dương Oai Hầu – Nguyễn Văn Tráng phò chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa – Quảng Nam” vào ngày 21-12-2008 vừa qua.

Theo gia phả của tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê, Thủy tổ là ông Nguyễn Văn Tráng, người Tống Sơn, Thanh Hóa. Năm Mậu Ngọ (năm 1558), ông theo chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, khai canh lập làng đến nay được 450 năm.

Theo những thông tin trong gia phả, tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê đã tổ chức tìm về cội nguồn dòng tộc ở Thanh Hoá. Đối chiếu gia phả tộc Nguyễn Văn làng Gia Miêu ở Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, có ghi ông Nguyễn Văn Tráng là ông nội bác của chúa Nguyễn Hoàng. Năm 61 tuổi theo phò trợ chúa Nguyễn Hoàng (25 tuổi) vào Nam mở mang bờ cõi. Nhờ có nhiều công lao, năm 1805 được Hoàng đế Gia Long truy tặng và phong chức Thống chưởng phủ sự, tước Dương Oai Hầu, Chánh vị tiền hiền làng Yến Nê. Cả 2 sắc chỉ của Hoàng đế Gia Long và của Hoàng đế Thiệu Trị ban cho ông Nguyễn Văn Tráng đang được lưu giữ tại gia tộc Nguyễn Văn Yến Nê xác nhận: Trước đây phụng thờ vị thần là tiền hiền Nguyễn Văn Tráng. Truy phong cho là Thống chưởng phủ sự, tước Dương Oai Hầu. Tại gia phả (trang thứ 7) được dịch: Đoan quận công Nguyễn Hoàng (chúa Tiên) phong cho Đức Tráng là Thượng Phụ Thái sư, mỹ từ Hộ quốc Tí dân…

Kết nối gia phả hai tộc, tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê có thêm 14 đời phát tích từ làng Gia Miêu. Về địa danh Tống Sơn được ghi trong gia phả của tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê đã được Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hóa xác định: “Tống Sơn xưa là một huyện, nay thuộc vùng đất H. Hà Trung và TX Bỉm Sơn”.

Như vậy, Tộc Nguyễn Văn tại Yến Nê có nguồn gốc từ Gia Miêu và ông tổ của họ đã có công giúp chúa Nguyễn Hoàng mở mang bờ cõi. Việc Sở VH-TT&DL TP Đà Nẵng đồng ý cho phép tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê được tổ chức “Lễ kỷ niệm 450 năm ngày ông Thủy tổ Dương Oai Hầu – Nguyễn Văn Tráng phò chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa – Quảng Nam” vào ngày 21-12-2008 vừa qua, chính là sự công nhận công sức đóng góp của Thuỷ tổ tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê trong hành trình mở cõi phương Nam của ông cha.

Làng chiếu Cẩm Nê

Làng Cẩm Nê thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 14km về phía Tây-Nam, nằm giữa một vùng đồng bằng do phù sa sông Cẩm Lệ bồi tạo nên. Chẳng những người quanh vùng mà cả người ở xa tận Huế, Đông Hà ngoài Quảng Trị cũng biết cái tên của làng quê nhỏ bé này : Làng Cẩm Nê. Bởi làng có nghề dệt chiếu truyền thống và nổi tiếng từ nhiều đời nay

Theo nhiều tài liệu thì nghề chiếu Cẩm Nê có nguồn gốc từ Hoằng Hóa, Thanh Hóa, được truyền vào miền Nam khoảng từ thế kỷ 15, lúc vua Lê Thánh Tôn chiến thắng Chiêm Thành, sát nhập thành Đồ Bàn vào Quảng Nam- Đà Nẵng. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử và bị cạnh tranh gay gắt, nghề chiếu Cẩm Nê vẫn tồn tại và phát triển đến nay.Các làng nghề thường gắn liền với vùng nguyên liệu tại chỗ phục vụ sản xuất, thế nhưng ở Cẩm Nê không có chỗ nào trồng cây đay và lác (cói) – nguyên liệu phục vụ cho nghề dệt chiếu. Do đó, người dân Cẩm Nê phải đi đến các vùng khác để thu mua nguyên liệu.

Cẩm Nê dệt nhiều loại chiếu, khổ rộng, khổ hẹp, dệt chiếu trơn và dệt chiếu hoa. Chiếu trơn là loại chiếu để nguyên sợi màu trắng không nhuộm màu. Chiếu trơn dệt loại lác dài không chắp, sợi nhỏ bán đắt tiền hơn loại dệt lác chắp, dệt hai sợi lác ngắn tiếp nối nhau. Loại chiếu trơn trắng này dùng loại lác phơi khô vừa phải, khi khô còn ửng màu xanh, đem vào dệt. Chiếu dệt xong đem phơi nắng, vừa để cho lá chiếu trắng sáng bóng, vừa cho khô giòn những đầu thừa thòi ra trên mặt lá chiếu của sợi lác, sợi đay, để dùng dao sắc, phạt cho đứt hết.

Loại chiếu hoa ở Cẩm Nê không phải dệt chiếu trắng xong mới dùng khuôn in hoa lên trên nền như một số vùng khác mà phải chọn sợi lác về nhuộm phẩm, màu sắc tùy theo người chủ. Màu đỏ, màu xanh, màu lục, màu vàng, màu ngại …Phẩm nấu lên và nhúng sợi lác vào, nhúng từng nạm một và đem phơi. Một nạm lác có thể nhuộm một hoặc hai ba lần tùy màu phẩm và độ pha chế đậm nhạt. Những sợi lác màu sau khi phơi khô, được đem chiếu hoa.

Một công phu của nghề dệt chiếu là chọn cây để làm khổ và thoi dệt. Phải chọn cây nào thật thẳng, nhẹ và bền. Vùng Cẩm Nê, người ta thường dùng cây cau già để làm khổ và thoi dệt. Hai người, một người giữ khổ, một người cầm thoi, dệt liên tục trong mười tiếng đồng hồ được một đôi rưỡi hoặc hai đôi chiếu, tùy loại đó là chiếu hoa hay chiếu trơn, khổ rộng hay khổ hẹp. Chiếu dệt xong đem trải khắp sân, khắp vườn, phơi để cho chiếu nguội và hoàn tất một phần công việc cuối cùng :ghim các đầu dây đay để cho các sợi lác hai đầu chiếu khỏi bung ra. Công việc này cũng phải khéo tay và có cặp mắt mỹ thuật, không thì chiếc chiếu sẽ lệch.

Người Quảng Nam vẫn còn lưu giữ phương ngữ quê tổ Thanh Hóa

Một cách khái quát, ngôn ngữ nói của người Quảng Nam có một số phương ngữ trùng hợp với phương ngữ của nhiều tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng. Đó là các từ ngữ như ở mô (ở đâu), đằng tê (đằng kia), cái chi rứa (cái gì vậy), con khọn (con khỉ), xa ngái (xa lắm)…

Đất Quảng Nam phần lớn là rừng núi và vùng bán sơn địa, nhiều sông suối đèo dốc nên địa hình khá hiểm trở. Tổ phụ của người Quảng Nam phần lớn là người Thanh Hóa, Nghệ An. Trên 500 năm trước, theo bước chân của vua Lê Thánh Tông, năm 1471, họ về phương Nam khai phá đất đai, lập làng mới. Những người đến trước thường chiếm vùng đồng bằng ven biển bởi đất đai ở đây dễ khai phá hơn. Những người đến sau phải đi dần lên vùng bán sơn địa và miền núi. Lịch sử của con người nói chung và của con người Quảng Nam nói riêng là phát triển từ Đông sang Tây. Đông là hướng biển, Tây là hướng rừng núi Trường Sơn.

Trước năm 1975, phương tiện giao thông chưa có nhiều, phương tiện truyền hình phát thanh lại càng hiếm. Người ta ở đâu thì ở đó, ít đi lại với nhau, ít nghe nhau nói. Có người suốt đời không có dịp đi ra khỏi làng mình. Họ nói thứ ngôn ngữ mà tổ phụ và bà con chung quanh thường nói. Địa hình hiểm trở khiến ngữ thanh của từng địa phương nhỏ cấp huyện, xã, thôn rất khác nhau. Chỉ trong một địa bàn Quảng Nam, những bà con vùng nguồn nói vùng biển chưa chắc đã nghe được.

Tôi nhớ có một ông ở Sơn Lãnh (Quế Sơn) gánh nồi đất xuống tận chợ Bàn Thạch (Duy Xuyên) bán. Buổi trưa nóng nực, chợ chưa đông, ông ngồi than thở với cha tôi: Tôi ở Sơn Lãnh, đi qua Sơn Thạnh xuống đây bán nồi đất. Chưa bán chi được mà nó trợt cái oách, bể hai cái trách một cái vung.

Ông nói rất nhanh, đặc biệt khi phát âm các từ có vần A như Lãnh, Thạnh, bán, đất, oách, trách thì ngữ thanh rất gần với ngữ thanh của bà con Thanh Hóa. Sau này có dịp thâm nhập, tôi mới biến bên kia đèo Le của Quế Sơn có những làng mà tổ phụ là người Thanh Hóa. Bởi quần cư sau một ngọn đèo hiểm trở, điều kiện đi lại khó khăn nên bà con ít khi đi khỏi làng mình. Sự giao lưu ngôn ngữ không có nên có những âm rặt của người Thanh còn được giữ lại dù bà con đã sống giữa lòng Quảng Nam trên 500 năm.

Bà con vùng Tiên Phước phát âm những chữ có vần Ôi thường cho ra âm vị Oôi rất dễ thương. Nếu bạn may mắn gặp được một cô gái Tiên Hà xinh đẹp phát âm những âm vị này, e rằng bạn khó bỏ xứ Tiên Phước mà đi. “Trời toối roồi, anh nên về đi thoôi”- cô bảo bạn như vậy. Nhưng xin bạn chớ dại dột mà bỏ đi thiệt. Bởi “Nhứt gái Tiên Hà; nhì gà Tiên Lãnh”. Bạn đến Tiên Phước mà không chiêm ngưỡng vẻ đẹp và nghe ngữ thanh duyên dáng của cô gái Tiên Hà, không ăn món gà Tiên Lãnh xé phay với cháo là sai lầm nghiêm trọng!

Tuy nhiên, ngữ thanh (âm vị) chỉ là cái vỏ bên ngoài. Chính hệ thống phương ngữ mới quyết định nội hàm của ngôn ngữ Quảng Nam. Tôi sẽ bắt đầu bàn qua phương ngữ theo thứ tự alphabet, giải thích ngữ nghĩa và đặt từ ấy trong văn cảnh cụ thể để các vị bạn đọc tiện theo dõi. Có những từ về âm vị, người Quảng Nam nói đúng theo âm vị các vùng miền khác nhưng ngữ nghĩa thì rặt Quảng Nam. Chúng tôi cũng đưa các từ này vào trong phương ngữ Quảng Nam.

Ảng: Một đồ dùng để chứa nước, thường được đúc bằng xi măng. Ảng có miệng to, đáy nhỏ, dưới đáy có ba chân, được trổ một lỗ lù để thoát nước. Rồi, không để cho vợ hỏi lôi thôi nữa, ông Trùm ra ảng múc một miếng nước súc miệng. (Hát tuồng hát bội – Vũ Đức Sao Biển).

Ba xăng khao: Tào lao, ăn nói vớ vẩn. Thằng X là thằng ba xăng khao.

Bá vơ: Tào lao. Không đáng tin. Thằng đó nói toàn chuyện bá vơ.

Bàn hình: Máy chụp ảnh. Sở dĩ máy ảnh được phong lên thành “bàn” bởi ngày xưa, chiếc máy Leika do Đức sản xuất rất to lớn, cồng kềnh. Người chụp đứng sau nó, phủ tấm vải đen trùm đầu rồi mới ra hiệu sẽ chụp ảnh. Ngày nay, máy ảnh kỹ thuật số đã gọn nhẹ nhưng nó vẫn được gọi là… bàn hình. Gọi vậy cho oai! Anh đem cái bàn hình chụp cho em một tấm ảnh đi.

Bàn thọa: Hộc bàn. Cha để giấy tờ của con trong cái bàn thọa nớ.

Bành chát, bành sư, bành sư chát: Cái gì to lớn quá khổ. Củ khoai từ bành sư, nặng tới mười ký. Cái gì của ông Phó Bảy cũng quá khổ, cũng rùng rợn, cũng to bành sư chát. (Con cá vược – Vũ Đức Sao Biển).

Bảy đáp: Danh từ chung chỉ những người chuyên mổ heo. Không thương ai bằng thương anh bảy đáp, Ảnh làm heo rồi mình có tim, có cật mình ăn. (Hát ru con Quảng Nam).Bảy đáp táp… heo. (Thành ngữ Quảng Nam).

Bị: Cái túi áo (dính liền với áo). Chị lựa những trái sim chín nhất, to nhất bỏ vào bị cho em. (Bóng hoa sim – Vũ Đức Sao Biển).

Bủng: Trạng thái của người bị phù thũng. Tiết đông thiên, ông Út ổng bủng.

Chuổi: Cây chổi quét nhà. Mi cầm cái chuổi mi suốt cái nhà coi.

Chừ: Bây giờ. Chớ chừ ông đi mô? (Hai tuồng hát bội – Vũ Đức Sao Biển).

Cúp: Hớt tóc (phiên âm động từ couper trong tiếng Pháp). Anh Sáu là thợ cúp.

Dá: Nhứ để dọa nhưng chưa đánh (hư chiêu). Một cái dá bằng ba cái đánh. (Thành ngữ Quảng Nam).

Dị: Xấu hổ, mắc cỡ. Ăn mặc hở hang rứa mà không biết dị. Hôm qua, em đi vô toa-lét, lúc ra lại quên kéo phẹc-mơ-tuya. Trời ơi, dị chi mà hắn dị!

Diễn: Trạng thái của chiếc nón lá đẹp, nhìn thích mắt. Chiếc nón này diễn lắm.

Dớn: Tên một loài rau họ tảo, mọc ven bờ sông, bờ suối các huyện miền cao. Mùa này cành rau dớn/ Ngọt ngào tươi hơn hớn/ Chờ bàn tay em hái dâng cho người. (Xuân ca vô tận – Vũ Đức Sao Biển).

Dũm: Loại nắp nhỏ làm bằng đất sét nung để đậy hũ mắm (tĩn mắm) rồi khằn lại bằng xi măng hay mật rỉ đường. Mặt hắn thun lại như cái nắp dũm.

Đà: Đã. Trang hồng kim hải ra hoa/ Trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai. (Mùa phượng cũ – Bùi Giáng).

Đầu dầu: Đầu không đội nón. Trời nắng chang chang mà mi đi đầu dầu rứa Tèo!

Đủm: Khúc. Ngắn ngủn. Ngắn. Mía được cắt ra thành từng đủm. Người chi mà đầu đuôi có một đủm.

Đường đượng: Trạng thái của cái lưng to, mập mạp. Ăn uống cho lắm rồi cái lưng đường đượng.

Giú: Giấu. Che giấu. Đứa mô giú quyển sách của em X thì đưa ra. Cái chuyện động trời như rứa tại răng mi giú cho hắn?

Gù: gò. Tán, tán tỉnh. Nói dịu dàng để lung lạc người khác. Mi lại đây, tau bày cho cách gù gái. Hắn gù răng không biết mà mượn được bà Hai đến 6 triệu đồng.

Hầm hinh: Trạng thái của đồ vật chông chênh, không chắc chắn, người đứng lên có thể té ngã. Cái bàn đang hầm hinh, đừng có đứng lên đó.

Hỷ: Nhé, nhá. Vậy (thường đứng cuối câu). Anh về em hỷ. Đang ở mô rứa hỷ? Mạnh giỏi không hỷ?

Hoang: Nghịch ngợm. Nói bậy bạ chuyện tình dục. Thích tình dục. Mi nói mi hoang hả? Mi hoang răng bằng tau? (Bốn Chỉnh – Vũ Đức Sao Biển).

Cái thằng đó hắn nói hoang lắm. Mới 30 tuổi, ông đã có bốn đứa con. Đúng là hoang sớm.

Họ: Người ta. Đại danh từ nhân xưng ngôi thứ nhất. Đi đâu mà bỏ họ ở nhà một mình?

Hử: Hả. Thường đứng cuối câu hỏi, hàm ý giận dữ. Mi có nhớ mi hứa với tau cái gì không, hử?

Khí: Con người, đồ vật chẳng ra gì. Thằng khí nớ không làm được việc chi hết. Cái xe khí này mà chạy răng được?

Khía cạnh: Nói châm chọc. Thôi, ông đừng khía cạnh tôi nữa.

Khính: Chẳng ra gì (hàm ý khinh bỉ). Cái đồ làm ăn như khính!

Khò: Cái gì được kết dính lại bằng lửa. Đào vàng ba năm, anh X chỉ kiếm được mấy chỉ vàng khò.

Khu đĩ: Chỗ vách nhà hình tam giác đỡ lấy hai mái nhà. Nước lụt lên rất nhanh khiến nhiều bà con phải trổ khu đĩ thoát ra, leo lên ngồi trên mái nhà.

Khù: Khờ, không biết gì. Ba mươi tuổi mà hắn vẫn khù như con nít.

Kinh: Quá. Chu, cái ông ni dễ thương kinh! (Quảng Nam hay cãi – Vũ Đức Sao Biển).

Lả: Không đứng đắn, không nghiêm túc. Làm con gái thì đừng có lả.

Lộn thin lộn mồng: Đầu óc hồ đồ, lộn lạo các thứ không nhớ ra. Mi đi chơi, tau đánh cho mi lộn thin lộng mồng!

Lù đu: Không phát triển, không lớn, không cao. Vùng đất cát lại thiếu nước nên trồng cây chi cũng lù đu. Mười tám tuổi rồi mà hắn lù đu như rứa đó.

Mắc tịt: Mắc cỡ. Xấu hổ. Mặc xà lỏn mà đi ngoài đàng, không biết mắt tịt.

Mằn: Sờ sẫm. Mân mê. Tối ba mươi Tết, Tết ba mươi/ Chồng mằn ngực vợ, vợ cười tươi/ Ông bà phán hỏi: Làm chi rứa?/ – Vui! (Thơ yết hậu dân gian Quảng Nam).

Mít: Dốt. Chịu thua, không trả lời được. Anh hỏi tới chữ nghĩa thì tui mít. Cái thằng nớ đi học nhưng vẫn mít như không đi học.

Mỵ: Lạ lùng, không giống ai. Chớ mi làm cái chi mà mỵ rứa mi?

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận

Điều hướng bài viết

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: