HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO QUỐC GIA

Trong tình hình biển Đông và sự căng thẳng của vấn đề chủ quyền lãnh hải quốc gia trên vùng biển Đông ngày càng leo thang. Thì vai trò và nhiệm vụ gánh vác lại dồn hết lên vai quân chủng hải quân nhân dân Việt Nam. Hiểu rõ quyền chủ quyền biển đảo quốc gia nói chung, vai trò nhiệm vụ của hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng, là điều cần thiết để người dân Việt Nam đứng vững trên lập trường chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và tài nguyên biển đẹp giàu của chúng ta.

QUÂN CHỦNG HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM

Quân chủng Hải quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn gọi là Hải quân Nhân dân Việt Nam, là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng quân đội bảo vệ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Cơ quan chỉ huy là Bộ Tư lệnh Hải quân.

Hải quân Nhân dân Việt Nam có các binh chủng tàu mặt nước, Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân, tàu ngầm… nhưng không tổ chức bộ tư lệnh riêng.

Hải quân Nhân dân Việt Nam có các cấp đơn vị: hải đoàn, hải đội tàu, binh đoàn Hải quân đánh bộ, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần…).

Trụ sở Bộ Tư lệnh đặt tại thành phố Hải Phòng.

TRUYỀN THỐNG HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM

Bài hát : Lướt sóng ra khơi
Sáng tác : Thế Dương
Trình bày : Bích Toàn

Lời bài hát :

Dạt dào biển mênh mông, sóng vỗ nhịp thân tàu
Đoàn ta ra khơi tiếng máy reo vang tràn ngập tình đất nước quê hương
Nhìn bầu trời xanh tươi, tay súng ta không rời
Lướt sóng ra khơi rộn ràng khúc ca yêu đời

Ngoài khơi bát ngát gió reo vui
Biển rộng bao la đang tung lưới từng khoang cá đầy
Cờ biển của ta đây sức sống đang chan hòa
Vượt ngàn sóng gió ta ra khơi giữ yên quê nhà

Đoàn tàu vượt ra khơi, nắng mới đẹp chân trời
Vượt trên gian khó lớp lớp sóng xô lòng người càng thắm thiết yêu thương
Giặc thù hòng xâm lăng, tay súng ta sẵn sàng
Chiến đấu hi sinh lập nhiều chiến công huy hoàng

Ngày nay, chiến đấu cho tương lai
Biển trời quê hương trong sáng mãi thuyền vui lướt về
Vì cuộc đời mai đây, khó mấy ta không lùi
Đoàn tàu vượt sóng ta ra khơi giữ yên quê nhà.

Đoàn tàu vượt ra khơi, đoàn tàu vượt ra khơi, đoàn tàu vượt ra khơi.

Hải đoàn tàu không số.

Đoàn tàu không số (còn gọi ”Lữ đoàn vận tải 125 Hải quân”) là đoàn tàu vận tải quân sự đường biển thuộc Đoàn 759 Hải quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược, và hàng quân sự khác… vượt đường biển nhằm chi viện cho lực lượng vũ trang ở Nam Việt Nam và vận chuyển cán bộ bí mật vào chiến trường trong thời kỳ Chiến tranh Việt nam. Thủy thủ đoàn của các con tàu không số được tuyển chọn rất kỹ lưỡng về kinh nghiệm hàng hải, thể chất và chính trị. Trước khi làm nhiệm vụ họ được truy điệu sống và coi như đã hi sinh.

”Lữ đoàn 125” đã thực hiện hàng trăm chuyến đi biển trong điều kiện gian khổ, vận chuyển và bàn giao hàng nghìn tấn vũ khí, khí tài, đạn dược… cho các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trên các chiến trường: Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Liên khu 5. Đồng thời, đoàn đã trực tiếp tham gia rà phá thủy lôi ở vùng biển Đông Bắc; tham gia giải phóng các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa thuộc quần đảo Trường Sa, Cù Lao Thu thuộc tỉnh Ninh Thuận và đón các tù nhân cộng sản từ Côn Đảo trở về đất liền.

CÁC VÙNG HẢI QUÂN

Vùng Hải quân là tổ chức liên binh đoàn chiến dịch-chiến thuật của hải quân, phân chia theo lãnh thổ, gồm các binh đoàn, binh đội tàu mặt nước, không quân của hải quân, Hải quân đánh bộ, bộ đội phòng thủ đảo, pháo binh bờ biển và các đơn vị bảo đảm tác chiến (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần…).

Ngày 26 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 141/QĐ-QP thành lập 5 vùng duyên hải thuộc Bộ Tư lệnh hải quân và quy đinh phạm vi quản lý của 5 vùng. Đến năm 1978 giải thể vùng 2 và đổi tên vùng duyên hải thành vùng hải quân.

Bộ tư lệnh Vùng 1 (hoặc Bộ tư lệnh vùng A): Vịnh Bắc Bộ.quản lý vùng biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh và các đảo trong Vịnh Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Trụ sở Bộ chỉ huy: Hải Phòng

Bộ tư lệnh Vùng 2 (hoặc Bộ tư lệnh vùng B). quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Nam Bình Thuận đến Bạc Liêu và thềm lục địa phía Nam , trong đó có khu vực trọng điểm là vùng biển có các cụm kinh tế – khoa học – dịch vụ (gọi tắt là DK1) thuộc thềm lục địa phía Nam, gồm có các tỉnh: phía Nam của Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, và vùng biển phía Đông Nam của tỉnh Cà Mau (bao gồm cả nhà giàn DK1/10 ở bãi ngầm Cà Mau). Trụ sở Bộ chỉ huy: Nhơn Trạch (Đồng Nai).

Bộ tư lệnh vùng 3 (hoặc Bộ tư lệnh vùng C) quản lý cả đoạn giữa miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Định gồm các tỉnh là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định gồm các đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, Quần đảo Hoàng Sa, v.v.. Trụ sở Bộ chỉ huy: Đà Nẵng.

Bộ tư lệnh Vùng 4 (hoặc Bộ tư lệnh vùng D): Vùng 4 quản lý Quần đảo Trường Sa, đảo Phú Quý và vùng biển phía nam miền Trung, từ Phú Yên đến Bắc Bình Thuận gồm các tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và phía Bắc của Bình Thuận. Trụ sở Bộ chỉ huy: quân cảng Cam Ranh (Khánh Hòa).

Bộ tư lệnh Vùng 5 (hoặc Bộ tư lệnh vùng E): Vùng 5 quản lý vùng biển Nam biển Đông và vịnh Thái Lan thuộc vùng biển hai tỉnh Cà Mau (biển phía Tây Nam của Cà Mau) và Kiên Giang. Trụ sở Bộ chỉ huy : đảo Phú Quốc ( Kiên Giang)

CHỦ QUYỀN QUỐC GIA ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Tờ lệnh của thời Vua Minh Mạng khẳng định chủ quyền.

Tờ lệnh Ngày 15 tháng 4 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) của quan Bố chánh, Án sát tỉnh Quảng Ngãi gồm có bốn trang, mỗi trang dài 36cm, rộng 24cm. Tuy chỉ vỏn vẹn có 04 trang nhưng Tờ lệnh chứa đựng nhiều thông tin quý, góp thêm một bằng chứng rằng đã từ lâu (từ trước năm 1834) Hoàng Sa đã thuộc phạm vi cai quản của Việt Nam. Tờ lệnh nêu rõ danh tính, quê quán của từng binh thuyền vâng mệnh triều đình đi lính Hoàng Sa không chỉ riêng ở huyện đảo Lý Sơn mà còn ở các vùng quê ven biển khác tại Quảng Ngãi, “Thủy thủ: Tên Đề Phạm Vị Thanh người phường An Hải; Tên Trâm Ao Văn Trâm, người Lệ Thủy Đông (hai tên); Tên Sơ Trân Văn Kham, người phường An Vĩnh; Tên Xuyên Nguyễn Văn Mạnh, người phường An Hải; Tên Lê Trần Văn Lê, người ấp Bản An; Tên Doanh Nguyễn Văn Doanh, người thôn Thạch Ốc An Thạch huyện Mộ Cách. Từ đội Kim Thương đưa sang 2 tên: Vũ Văn Nội; Trương Văn Tài”.

Tờ lệnh còn xác thực thêm những thông tin ghi chép trong các bộ chính sử của triều Nguyễn về ông Võ Văn Hùng, là người có công đi Hoàng Sa trong nhiều năm. Văn bản còn thể hiện về cách thức tổ chức của đội Hoàng Sa, thủy quân Hoàng Sa, phiên chế, cách tuyển chọn, thời gian xuất hành…

Tờ lệnh còn giúp khẳng định rằng mỗi năm vua Minh Mệnh đều có điều bao nhiêu thuyền và lính ra Hoàng Sa. Đó là việc rất quan trọng, được phối hợp hoạt động chặt chẽ từ trung ương đến địa phương trong việc lập bản đồ, cắm mốc chủ quyền, trồng cây và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Nó kéo dài suốt nhiều năm và rất nhiều hải đội người Việt đã nối tiếp nhau có mặt ở Hoàng Sa. Họ thường đi trên ghe bầu rộng khoảng 3m, dài 12m, chở được 8 – 12 người, mang theo lương thực đủ dùng trong sáu tháng và cả nẹp tre để bó thi thể khi hi sinh. Trước khi đi, địa phương đã làm lễ tế sống họ. Nhiều hải đội đã anh dũng ra đi không trở về mà chứng tích hiện vẫn còn lưu lại nhiều ở các địa phương ven biển đặc biệt là ở Lý Sơn.

Tờ lệnh này đã bổ sung vào kho tư liệu lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và kết nối logic với hệ thống tư liệu quý cùng nhiều di tích liên quan đến hải đội Hoàng Sa, quần thể mộ lính Hoàng Sa, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa… chứng tỏ từ nhiều thế kỷ trước tổ tiên người Việt Nam đã giong thuyền ra Biển Đông để cắm bia khẳng định chủ quyền và bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.

“Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” – 1904 của Trung quốc không có Hoàng Sa và Trường Sa.

TS Phan Văn Hoàng nói: “Lẽ ra chuyện này các cơ quan chức năng phải làm từ lâu nhưng hiện vẫn chưa thấy làm hoặc chưa công khai rộng rãi. Tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” xuất bản năm 1904 của Trung Quốc chỉ là một trong những tư liệu quý mà chúng ta đang có.Trong giới nghiên cứu tư nhân cũng có nhiều người đã nghiên cứu và sở hữu nhiều bản đồ, tư liệu quý giá về chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa – Trường Sa, như nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phạm Hồng Quân, nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo… Những tư liệu này có phần đã công bố nhưng cũng có cái chưa có điều kiện đưa ra”.Các nhà nghiên cứu Việt Nam từng tiếp cận nhiều bản đồ khác của Trung Quốc như “Hoàng triều dư địa toàn đồ” (1728-1729), “Hoàng triều nhất thống dư địa toàn đồ” (1894) và gần hơn nữa là “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” (1905)… đều vẽ biên giới phía nam Trung Quốc dừng ở đảo Hải Nam. Điều này cũng phù hợp với sử sách của Trung Quốc, như sách Đại Thanh nhất thống chí (1842) nói rõ cực nam của Trung Quốc là núi Nhai (Nhai Sơn hay Thiên Nhai Sơn) nằm phía nam Nhai Châu (đảo Hải Nam) ở vị trí 18030’ vĩ độ bắc.

(còn nữa)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận

Điều hướng bài viết

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: