Tổng hợp kênh Nơi Trái Tim

Mikoyan MiG-29 (Микоян МиГ-29)

Sukhoi Su-35 (Сухой Су-35)

07-й меняет курс

БТР-60ПБ

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: , , , , , , | Để lại bình luận
 
 

Bản tuyên ngôn độc lập 2/9/1945

Bản tuyên ngôn độc lập 2/9/1945

 

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

——————————————

English version:

“All men are created equal. They are endowed by their Creator with certain inalienable rights, among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness”

This immortal statement was made in the Declaration of Independence of the United States of America m 1776. In a broader sense, this means: All the peoples on the earth are equal from birth, all the peoples have a right to live, to be happy and free.

The Declaration of the French Revolution made in 1791 on the Rights of Man and the Citizen also states: “All men are born free and with equal rights, and must always remain free and have equal rights.” Those are undeniable truths.

Nevertheless, for more than eighty years, the French imperialists, abusing the standard of Liberty, Equality, and Fraternity, have violated our Fatherland and oppressed our fellow-citizens. They have acted contrary to the ideals of humanity and justice. In the field of politics, they have deprived our people of every democratic liberty.

They have enforced inhuman laws; they have set up three distinct political regimes in the North, the Center and the South of Vietnam in order to wreck our national unity and prevent our people from being united.

They have built more prisons than schools. They have mercilessly slain our patriots- they have drowned our uprisings in rivers of blood. They have fettered public opinion; they have practised obscurantism against our people. To weaken our race they have forced us to use opium and alcohol.

In the fields of economics, they have fleeced us to the backbone, impoverished our people, and devastated our land.

They have robbed us of our rice fields, our mines, our forests, and our raw materials. They have monopolised the issuing of bank-notes and the export trade.

They have invented numerous unjustifiable taxes and reduced our people, especially our peasantry, to a state of extreme poverty.

They have hampered the prospering of our national bourgeoisie; they have mercilessly exploited our workers.

In the autumn of 1940, when the Japanese Fascists violated Indochina’s territory to establish new bases in their fight against the Allies, the French imperialists went down on their bended knees and handed over our country to them.

Thus, from that date, our people were subjected to the double yoke of the French and the Japanese. Their sufferings and miseries increased. The result was that from the end of last year to the beginning of this year, from Quang Tri province to the North of Vietnam, more than two rnillion of our fellow-citizens died from starvation. On March 9, the French troops were disarmed by the lapanese. The French colonialists either fled or surrendered, showing that not only were they incapable of “protecting” us, but that, in the span of five years, they had twice sold our country to the Japanese.

On several occasions before March 9, the Vietminh League urged the French to ally themselves with it against the Japanese. Instead of agreeing to this proposal, the French colonialists so intensified their terrorist activities against the Vietminh members that before fleeing they massacred a great number of our political prisoners detained at Yen Bay and Cao Bang.

Not withstanding all this, our fellow-citizens have always manifested toward the French a tolerant and humane attitude. Even after the Japanese putsch of March 1945, the Vietminh League helped many Frenchmen to cross the frontier, rescued some of them from Japanese jails, and protected French lives and property.

From the autumn of 1940, our country had in fact ceased to be a French colony and had become a Japanese possession.

After the Japanese had surrendered to the Allies, our whole people rose to regain our national sovereignty and to found the Democratic Republic of Vietnam.

The truth is that we have wrested our independence from the Japanese and not from the French

The French have fled, the Japanese have capitulated, Emperor Bao Dai has abdicated. Our people have broken the chains which for nearly a century have fettered them and have won independence for the Fatherland. Our people at the same time have overthrown the monarchic regime that has reigned supreme for dozens of centuries. In its place has been established the present Democratic Republic.

For these reasons, we, members of the Provisional Government, representing the whole Vietnamese people, declare that from now on we break off all relations of a colonial character with France; we repeal all the international obligation that France has so far subscribed to on behalf of Vietnam and we abolish all the special rights the French have unlawfully acquired in our Fatherland.

The whole Vietnamese people, animated by a common purpose, are determined to fight to the bitter end against any attempt by the French colonialists to reconquer their country.

We are convinced that the Allied nations which at Tehran and San Francisco have acknowledged the principles of self-determination and equality of nations, will not refuse to acknowledge the independence of Vietnam.

A people who have courageously opposed French domination for more than eighty years, a people who have fought side by side with the Allies against the Fascists during these last years, such a people must be free and independent.

For these reasons, we, members of the Provisional Government of the Democratic Republic of Vietnam, solemnly declare to the world that Vietnam has the right to be a free and independent countryÑand in fact it is so already. The entire Vietnamese people are determined to mobilise all their physical and mental strength, to sacrifice their lives and property in order to safeguard their independence and liberty.

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

Hồ Chí Minh.

Người sinh ra tại một vùng đất nghèo xứ Nghệ nơi có những ông đồ đi vào sử sách và thi ca. Người mang giọng nói trầm âm, ấp áp (tiếng Nghệ) đi khắp thế gian mà vẫn mộc một thứ phương ngữ đơn sơ. Người ta gọi tên Người Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đối với ai đó là kẻ thù, là người bạn lớn, là sự biết ơn… nhưng hơn tất cả dù là kẻ thù, người bạn, kẻ chịu ơn hay sự ngưỡng mộ. Tất thảy họ đều có chung một sự cảm phục một cái nhìn đầy nể phục một con người một nhân vật đi vào lịch sử của một dân tộc với thế kỷ 20 đầy máu và nước mắt. Xin ngàn lần vinh danh mà gọi tên: Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Nhân cách Hồ Chí Minh có gì?

Đối với kẻ xuyên tạc, người ghen tỵ thường hay đem những tích chuyện tiểu tiết, truyền tai nhau những mẫu chuyện thật giả khó phân, hạ uy tín của của một nhân vật nào đó được xã hội tôn kính để tạo nên dư luận xã hội. Đằng sau những lý do tưởng như vô thưởng vô phạt, những trò lố cho những kịch bản đó là một mục đích mà ai cũng biết. Có một luận lý đó là bạn muốn trở thành thiên tài hãy lật đổ những thiên tài. Tại sao có những kẻ cố gắng tìm mọi cách phá bỏ hình tượng Hồ Chí Minh? Tại vì chính họ cũng phải thừa nhận mà chẳng dám nói ra đó là sự vĩ đại của một con người và nhân cách lớn. Họ khát cầu họ được như vậy và việc họ làm là phỉ báng xuyên tạc lật đổ hình tượng nhân cách lớn Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh chưa bao giờ nhận mình là giáo sư hay tiến sĩ, cũng chẳng nhận mình là đảng viên cộng sản dù người sáng lập ra đảng này.

Tại sao vậy?

Tại vì bản thân Hồ Chí Minh với quá khứ của mình đâu có được học trường lớp nào đến nơi đến chốn. Người đâu có vinh hạnh làm luận án bằng cấp thạc sĩ giáo sư. Hồ Chí Minh chẳng phải đã tuyên bố trước quốc dân đồng bào về quan điểm chính trị của Người trước quốc dân đồng bào là chỉ có một đảng đảng Việt Nam hay sao…

Nhưng đối với những con người hiểu về Hồ Chí Minh, (Kể cả kẻ thù lẫn người tôn kính) thì cuộc đời Người là cả một công trình nghiên cứu vĩ đại xuất thân từ một gia tộc nho giáo, ảnh hưởng tư tưởng của một xã hội Phật giáo từng là quốc giáo. Xuất phát điểm từ một nhà tư tưởng dân tộc ái quốc để rồi chọn con đường giải phóng dân tộc cứu quốc bằng phong trào quốc tế 3 với lý tưởng cộng sản. Người đã làm “cuộc cách mạng” hiện thực hóa luận cương tháng 10. Hồ Chí Minh đã minh chứng sức mạnh đoàn kết toàn dân của các nước thuộc địa có thể đánh bại mọi kẻ thù đế quốc,…

Hồ Chí Minh để lại cho thế hệ mai sau những gì?

Đó là độc lập – Tự do. Cái giá của độc lập tự do đổi bằng cả tuổi thanh xuân, cuộc đời của một con người với vóc dáng nhỏ bé, một động lực lớn khiến cho cả một quốc gia cả một dân tộc bừng sáng hừng hực khí thế, “lớp cha trước lớp con sau đã thành đồng chí chung câu quân hành”. Cả thế kỷ XX, sau thế chiến 2, ở Việt Nam ai có thể vượt qua được Hồ Chí Minh, hình ảnh Hồ Chí Minh là sức mạnh, động lực của các quốc gia thuộc địa khát cầu giải phóng dân tộc, khát cầu tự do thoát khỏi đêm trường nô lệ và sự lệ thuộc vào các đế quốc.

Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại. !

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

HÌNH ẢNH TÀU CHIẾN HẢI QUÂN VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Tổng hợp hình ảnh về tàu chiến của hải quân nhân dân Việt Nam.

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU HÌNH ẢNH | Tags: | Để lại bình luận
 
 

Dấu ấn xứ Thanh Trên đất Quảng Nam

Con người Quảng Nam – Quá khứ, Hiện tại.

Tài nguyên phong phú, vị trí chiến lược quan trọng là hai yếu tố để Quảng Nam trở thành vùng đất bị tranh chấp và người dân Quảng Nam phải gánh chịu nhiều hậu quả của những diễn biến lịch sử của đất nước để trưởng thành.

Phần lớn dân cư Quảng Nam là người Việt có nguồn gốc từ miền Bắc và Thanh Hóa. Ðó là những con người có ý chí và bản lãnh chấp nhận những khó khăn của cuộc sống phiêu lưu và khai phá. Ðó là những con người có tinh thần phóng khoáng, không chịu những áp bức bất công của thời kỳ Vua Lê Chúa Trịnh suy vi, xã hội miền Bắc hỗn loạn nên tìm cách chống lại để bảo vệ tự do và phẩm giá . Ðó cũng là những con người nhận trách nhiệm lịch sử, đội quân tiên phong của Chúa Nguyễn vào Nam trấn thủ và mở mang bờ cõi.

Có thể nói cộng đồng những người khai phá vùng đất mới Quảng Nam là những con người bản lãnh và khát vọng, giàu tinh thần đấu tranh, được tôi luyện trong gian khổ và trưởng thành trong chiến đấu khắc phục những khó khăn từ thiên nhiên và do lịch sử đem lại.

Làng gốm Thanh Hà – Quảng Nam.

Có nguồn gốc Thanh Hoá, làng gốm Thanh Hà được hình thành từ cuối thế kỷ 15 và phát triển mạnh cùng với cảng thị Hội An trong các thế kỷ kế tiếp. Sảm phẩm gốm Thanh Hà được làm từ nguồn nguyên liệu chính là đất sét bởi những bàn tay điêu luyện của nghệ nhân và kỹ thuật truyền thống của làng nghề. Sản phẩm chủ yếu là các đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, chum, vại, bình hoa, chậu cảnh, hình thù các con giống … mang nhiều kiểu dáng, màu sắc rất phong phú và đặc biệt nhẹ hơn so với các sản phẩm cùng loại của những địa phương khác.

Cho đến nay, làng gốm Thanh Hà vẫn tồn tại và hoạt động sản xuất thủ công với phương tiện và kỹ thuật truyền thống. Chính vì thế làng gốm Thanh Hà trở thành một bảo tàng sống, một nguồn tư liệu quý giá cho các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu về nghề gốm cổ truyền của Việt Nam nói riêng cũng như của vùng Đông Nam Á nói chung.

Làng gốm Thanh Hà nằm ngay bên bờ sông Thu Bồn, thuộc địa bàn xã Cẩm Hà – thị xã Hội An, cách khu phố cổ khoảng 2km về hướng Tây. Đến thăm làng, ngoài việc tho sức lựa chọn các sản phẩm lưu niệm bằng gốm, du khách còn được tận mắt chứng kiến những thao tác điêu luyện từ những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề này.

Họ Lê ở Quảng Nam.

Năm 1470, Lê Thánh tông tiến quân vào phía nam trấn áp người Chiêm quấy rối biên thùy, đổi đặt xứ Thuận Quảng làm thừa tuyên Quảng Nam. Khi đạo quân rút về miền Bắc, nhà vua để lại một số tướng lĩnh, văn chức làm nhiệm vụ cái quản miền đất mới, ổn định, giúp dân khai hoang phục hóa, trong đó có những hoàng thân quốc thích sau này là khởi tổ của những chi phái nổi tiếng như Lê Tấn Triều, Lê Tấn Trung, con trai vua Lê Thái tông và bà Ngô Thị Ngọc Xuân tức Thung (chị ruột Ngô Thị Ngọc Dao đẻ ra Lê Thánh tông). Các chi phái họ Lê ở Quảng Nam hiện còn truyền lại nhiều gia phả, như Hoàng Lê ngọc phả, gia phả dòng Tư Tề (con trưởng Lê Lợi), gia phả dòng Lê Khiêm, v.v… Nói chung các gia phả đều ghi rõ nguồn gốc, thế thứ, có gia phả ghi chép ngay từ thời mới định cư (1471) như phả tịch của Cao thượng tổ Lê Hoàn, sao lại năm 1907, đời vua Duy Tân, chép rất cụ thể con cháu ông tới 14 người đều trở thành tiền hiền ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Căn cứ gia phả và sự thờ tự ở nhà thờ đại tôn họ Lê, chúng ta có thể tin cụ Lê Thứ chính là Triệu tổ, tức vị tổ đời thứ năm của Lê Thái tổ. Vị tổ này chỉ được thờ ở từ đường riêng của dòng tộc họ Lê, không được thờ ở nhà Thái miếu Đông Kinh và Lam Kinh, nên sử sách không ghi chép (Vì Lê Thái tổ chỉ truy phong đến tổ ba đời).

Tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê, Hoà Tiến, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng

Tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê, Hoà Tiến, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng vừa tổ chức “Lễ kỷ niệm 450 năm ngày ông Thủy tổ Dương Oai Hầu – Nguyễn Văn Tráng phò chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa – Quảng Nam” vào ngày 21-12-2008 vừa qua.

Theo gia phả của tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê, Thủy tổ là ông Nguyễn Văn Tráng, người Tống Sơn, Thanh Hóa. Năm Mậu Ngọ (năm 1558), ông theo chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, khai canh lập làng đến nay được 450 năm.

Theo những thông tin trong gia phả, tộc Nguyễn Văn ở Yến Nê đã tổ chức tìm về cội nguồn dòng tộc ở Thanh Hoá. Đối chiếu gia phả tộc Nguyễn Văn làng Gia Miêu ở Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, có ghi ông Nguyễn Văn Tráng là ông nội bác của chúa Nguyễn Hoàng. Năm 61 tuổi theo phò trợ chúa Nguyễn Hoàng (25 tuổi) vào Nam mở mang bờ cõi. Nhờ có nhiều công lao, năm 1805 được Hoàng đế Gia Long truy tặng và phong chức Thống chưởng phủ sự, tước Dương Oai Hầu, Chánh vị tiền hiền làng Yến Nê. Cả 2 sắc chỉ của Hoàng đế Gia Long và của Hoàng đế Thiệu Trị ban cho ông Nguyễn Văn Tráng đang được lưu giữ tại gia tộc Nguyễn Văn Yến Nê xác nhận: Trước đây phụng thờ vị thần là tiền hiền Nguyễn Văn Tráng. Truy phong cho là Thống chưởng phủ sự, tước Dương Oai Hầu. Tại gia phả (trang thứ 7) được dịch: Đoan quận công Nguyễn Hoàng (chúa Tiên) phong cho Đức Tráng là Thượng Phụ Thái sư, mỹ từ Hộ quốc Tí dân…

Kết nối gia phả hai tộc, tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê có thêm 14 đời phát tích từ làng Gia Miêu. Về địa danh Tống Sơn được ghi trong gia phả của tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê đã được Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hóa xác định: “Tống Sơn xưa là một huyện, nay thuộc vùng đất H. Hà Trung và TX Bỉm Sơn”.

Như vậy, Tộc Nguyễn Văn tại Yến Nê có nguồn gốc từ Gia Miêu và ông tổ của họ đã có công giúp chúa Nguyễn Hoàng mở mang bờ cõi. Việc Sở VH-TT&DL TP Đà Nẵng đồng ý cho phép tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê được tổ chức “Lễ kỷ niệm 450 năm ngày ông Thủy tổ Dương Oai Hầu – Nguyễn Văn Tráng phò chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa – Quảng Nam” vào ngày 21-12-2008 vừa qua, chính là sự công nhận công sức đóng góp của Thuỷ tổ tộc Nguyễn Văn làng Yến Nê trong hành trình mở cõi phương Nam của ông cha.

Làng chiếu Cẩm Nê

Làng Cẩm Nê thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 14km về phía Tây-Nam, nằm giữa một vùng đồng bằng do phù sa sông Cẩm Lệ bồi tạo nên. Chẳng những người quanh vùng mà cả người ở xa tận Huế, Đông Hà ngoài Quảng Trị cũng biết cái tên của làng quê nhỏ bé này : Làng Cẩm Nê. Bởi làng có nghề dệt chiếu truyền thống và nổi tiếng từ nhiều đời nay

Theo nhiều tài liệu thì nghề chiếu Cẩm Nê có nguồn gốc từ Hoằng Hóa, Thanh Hóa, được truyền vào miền Nam khoảng từ thế kỷ 15, lúc vua Lê Thánh Tôn chiến thắng Chiêm Thành, sát nhập thành Đồ Bàn vào Quảng Nam- Đà Nẵng. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử và bị cạnh tranh gay gắt, nghề chiếu Cẩm Nê vẫn tồn tại và phát triển đến nay.Các làng nghề thường gắn liền với vùng nguyên liệu tại chỗ phục vụ sản xuất, thế nhưng ở Cẩm Nê không có chỗ nào trồng cây đay và lác (cói) – nguyên liệu phục vụ cho nghề dệt chiếu. Do đó, người dân Cẩm Nê phải đi đến các vùng khác để thu mua nguyên liệu.

Cẩm Nê dệt nhiều loại chiếu, khổ rộng, khổ hẹp, dệt chiếu trơn và dệt chiếu hoa. Chiếu trơn là loại chiếu để nguyên sợi màu trắng không nhuộm màu. Chiếu trơn dệt loại lác dài không chắp, sợi nhỏ bán đắt tiền hơn loại dệt lác chắp, dệt hai sợi lác ngắn tiếp nối nhau. Loại chiếu trơn trắng này dùng loại lác phơi khô vừa phải, khi khô còn ửng màu xanh, đem vào dệt. Chiếu dệt xong đem phơi nắng, vừa để cho lá chiếu trắng sáng bóng, vừa cho khô giòn những đầu thừa thòi ra trên mặt lá chiếu của sợi lác, sợi đay, để dùng dao sắc, phạt cho đứt hết.

Loại chiếu hoa ở Cẩm Nê không phải dệt chiếu trắng xong mới dùng khuôn in hoa lên trên nền như một số vùng khác mà phải chọn sợi lác về nhuộm phẩm, màu sắc tùy theo người chủ. Màu đỏ, màu xanh, màu lục, màu vàng, màu ngại …Phẩm nấu lên và nhúng sợi lác vào, nhúng từng nạm một và đem phơi. Một nạm lác có thể nhuộm một hoặc hai ba lần tùy màu phẩm và độ pha chế đậm nhạt. Những sợi lác màu sau khi phơi khô, được đem chiếu hoa.

Một công phu của nghề dệt chiếu là chọn cây để làm khổ và thoi dệt. Phải chọn cây nào thật thẳng, nhẹ và bền. Vùng Cẩm Nê, người ta thường dùng cây cau già để làm khổ và thoi dệt. Hai người, một người giữ khổ, một người cầm thoi, dệt liên tục trong mười tiếng đồng hồ được một đôi rưỡi hoặc hai đôi chiếu, tùy loại đó là chiếu hoa hay chiếu trơn, khổ rộng hay khổ hẹp. Chiếu dệt xong đem trải khắp sân, khắp vườn, phơi để cho chiếu nguội và hoàn tất một phần công việc cuối cùng :ghim các đầu dây đay để cho các sợi lác hai đầu chiếu khỏi bung ra. Công việc này cũng phải khéo tay và có cặp mắt mỹ thuật, không thì chiếc chiếu sẽ lệch.

Người Quảng Nam vẫn còn lưu giữ phương ngữ quê tổ Thanh Hóa

Một cách khái quát, ngôn ngữ nói của người Quảng Nam có một số phương ngữ trùng hợp với phương ngữ của nhiều tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng. Đó là các từ ngữ như ở mô (ở đâu), đằng tê (đằng kia), cái chi rứa (cái gì vậy), con khọn (con khỉ), xa ngái (xa lắm)…

Đất Quảng Nam phần lớn là rừng núi và vùng bán sơn địa, nhiều sông suối đèo dốc nên địa hình khá hiểm trở. Tổ phụ của người Quảng Nam phần lớn là người Thanh Hóa, Nghệ An. Trên 500 năm trước, theo bước chân của vua Lê Thánh Tông, năm 1471, họ về phương Nam khai phá đất đai, lập làng mới. Những người đến trước thường chiếm vùng đồng bằng ven biển bởi đất đai ở đây dễ khai phá hơn. Những người đến sau phải đi dần lên vùng bán sơn địa và miền núi. Lịch sử của con người nói chung và của con người Quảng Nam nói riêng là phát triển từ Đông sang Tây. Đông là hướng biển, Tây là hướng rừng núi Trường Sơn.

Trước năm 1975, phương tiện giao thông chưa có nhiều, phương tiện truyền hình phát thanh lại càng hiếm. Người ta ở đâu thì ở đó, ít đi lại với nhau, ít nghe nhau nói. Có người suốt đời không có dịp đi ra khỏi làng mình. Họ nói thứ ngôn ngữ mà tổ phụ và bà con chung quanh thường nói. Địa hình hiểm trở khiến ngữ thanh của từng địa phương nhỏ cấp huyện, xã, thôn rất khác nhau. Chỉ trong một địa bàn Quảng Nam, những bà con vùng nguồn nói vùng biển chưa chắc đã nghe được.

Tôi nhớ có một ông ở Sơn Lãnh (Quế Sơn) gánh nồi đất xuống tận chợ Bàn Thạch (Duy Xuyên) bán. Buổi trưa nóng nực, chợ chưa đông, ông ngồi than thở với cha tôi: Tôi ở Sơn Lãnh, đi qua Sơn Thạnh xuống đây bán nồi đất. Chưa bán chi được mà nó trợt cái oách, bể hai cái trách một cái vung.

Ông nói rất nhanh, đặc biệt khi phát âm các từ có vần A như Lãnh, Thạnh, bán, đất, oách, trách thì ngữ thanh rất gần với ngữ thanh của bà con Thanh Hóa. Sau này có dịp thâm nhập, tôi mới biến bên kia đèo Le của Quế Sơn có những làng mà tổ phụ là người Thanh Hóa. Bởi quần cư sau một ngọn đèo hiểm trở, điều kiện đi lại khó khăn nên bà con ít khi đi khỏi làng mình. Sự giao lưu ngôn ngữ không có nên có những âm rặt của người Thanh còn được giữ lại dù bà con đã sống giữa lòng Quảng Nam trên 500 năm.

Bà con vùng Tiên Phước phát âm những chữ có vần Ôi thường cho ra âm vị Oôi rất dễ thương. Nếu bạn may mắn gặp được một cô gái Tiên Hà xinh đẹp phát âm những âm vị này, e rằng bạn khó bỏ xứ Tiên Phước mà đi. “Trời toối roồi, anh nên về đi thoôi”- cô bảo bạn như vậy. Nhưng xin bạn chớ dại dột mà bỏ đi thiệt. Bởi “Nhứt gái Tiên Hà; nhì gà Tiên Lãnh”. Bạn đến Tiên Phước mà không chiêm ngưỡng vẻ đẹp và nghe ngữ thanh duyên dáng của cô gái Tiên Hà, không ăn món gà Tiên Lãnh xé phay với cháo là sai lầm nghiêm trọng!

Tuy nhiên, ngữ thanh (âm vị) chỉ là cái vỏ bên ngoài. Chính hệ thống phương ngữ mới quyết định nội hàm của ngôn ngữ Quảng Nam. Tôi sẽ bắt đầu bàn qua phương ngữ theo thứ tự alphabet, giải thích ngữ nghĩa và đặt từ ấy trong văn cảnh cụ thể để các vị bạn đọc tiện theo dõi. Có những từ về âm vị, người Quảng Nam nói đúng theo âm vị các vùng miền khác nhưng ngữ nghĩa thì rặt Quảng Nam. Chúng tôi cũng đưa các từ này vào trong phương ngữ Quảng Nam.

Ảng: Một đồ dùng để chứa nước, thường được đúc bằng xi măng. Ảng có miệng to, đáy nhỏ, dưới đáy có ba chân, được trổ một lỗ lù để thoát nước. Rồi, không để cho vợ hỏi lôi thôi nữa, ông Trùm ra ảng múc một miếng nước súc miệng. (Hát tuồng hát bội – Vũ Đức Sao Biển).

Ba xăng khao: Tào lao, ăn nói vớ vẩn. Thằng X là thằng ba xăng khao.

Bá vơ: Tào lao. Không đáng tin. Thằng đó nói toàn chuyện bá vơ.

Bàn hình: Máy chụp ảnh. Sở dĩ máy ảnh được phong lên thành “bàn” bởi ngày xưa, chiếc máy Leika do Đức sản xuất rất to lớn, cồng kềnh. Người chụp đứng sau nó, phủ tấm vải đen trùm đầu rồi mới ra hiệu sẽ chụp ảnh. Ngày nay, máy ảnh kỹ thuật số đã gọn nhẹ nhưng nó vẫn được gọi là… bàn hình. Gọi vậy cho oai! Anh đem cái bàn hình chụp cho em một tấm ảnh đi.

Bàn thọa: Hộc bàn. Cha để giấy tờ của con trong cái bàn thọa nớ.

Bành chát, bành sư, bành sư chát: Cái gì to lớn quá khổ. Củ khoai từ bành sư, nặng tới mười ký. Cái gì của ông Phó Bảy cũng quá khổ, cũng rùng rợn, cũng to bành sư chát. (Con cá vược – Vũ Đức Sao Biển).

Bảy đáp: Danh từ chung chỉ những người chuyên mổ heo. Không thương ai bằng thương anh bảy đáp, Ảnh làm heo rồi mình có tim, có cật mình ăn. (Hát ru con Quảng Nam).Bảy đáp táp… heo. (Thành ngữ Quảng Nam).

Bị: Cái túi áo (dính liền với áo). Chị lựa những trái sim chín nhất, to nhất bỏ vào bị cho em. (Bóng hoa sim – Vũ Đức Sao Biển).

Bủng: Trạng thái của người bị phù thũng. Tiết đông thiên, ông Út ổng bủng.

Chuổi: Cây chổi quét nhà. Mi cầm cái chuổi mi suốt cái nhà coi.

Chừ: Bây giờ. Chớ chừ ông đi mô? (Hai tuồng hát bội – Vũ Đức Sao Biển).

Cúp: Hớt tóc (phiên âm động từ couper trong tiếng Pháp). Anh Sáu là thợ cúp.

Dá: Nhứ để dọa nhưng chưa đánh (hư chiêu). Một cái dá bằng ba cái đánh. (Thành ngữ Quảng Nam).

Dị: Xấu hổ, mắc cỡ. Ăn mặc hở hang rứa mà không biết dị. Hôm qua, em đi vô toa-lét, lúc ra lại quên kéo phẹc-mơ-tuya. Trời ơi, dị chi mà hắn dị!

Diễn: Trạng thái của chiếc nón lá đẹp, nhìn thích mắt. Chiếc nón này diễn lắm.

Dớn: Tên một loài rau họ tảo, mọc ven bờ sông, bờ suối các huyện miền cao. Mùa này cành rau dớn/ Ngọt ngào tươi hơn hớn/ Chờ bàn tay em hái dâng cho người. (Xuân ca vô tận – Vũ Đức Sao Biển).

Dũm: Loại nắp nhỏ làm bằng đất sét nung để đậy hũ mắm (tĩn mắm) rồi khằn lại bằng xi măng hay mật rỉ đường. Mặt hắn thun lại như cái nắp dũm.

Đà: Đã. Trang hồng kim hải ra hoa/ Trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai. (Mùa phượng cũ – Bùi Giáng).

Đầu dầu: Đầu không đội nón. Trời nắng chang chang mà mi đi đầu dầu rứa Tèo!

Đủm: Khúc. Ngắn ngủn. Ngắn. Mía được cắt ra thành từng đủm. Người chi mà đầu đuôi có một đủm.

Đường đượng: Trạng thái của cái lưng to, mập mạp. Ăn uống cho lắm rồi cái lưng đường đượng.

Giú: Giấu. Che giấu. Đứa mô giú quyển sách của em X thì đưa ra. Cái chuyện động trời như rứa tại răng mi giú cho hắn?

Gù: gò. Tán, tán tỉnh. Nói dịu dàng để lung lạc người khác. Mi lại đây, tau bày cho cách gù gái. Hắn gù răng không biết mà mượn được bà Hai đến 6 triệu đồng.

Hầm hinh: Trạng thái của đồ vật chông chênh, không chắc chắn, người đứng lên có thể té ngã. Cái bàn đang hầm hinh, đừng có đứng lên đó.

Hỷ: Nhé, nhá. Vậy (thường đứng cuối câu). Anh về em hỷ. Đang ở mô rứa hỷ? Mạnh giỏi không hỷ?

Hoang: Nghịch ngợm. Nói bậy bạ chuyện tình dục. Thích tình dục. Mi nói mi hoang hả? Mi hoang răng bằng tau? (Bốn Chỉnh – Vũ Đức Sao Biển).

Cái thằng đó hắn nói hoang lắm. Mới 30 tuổi, ông đã có bốn đứa con. Đúng là hoang sớm.

Họ: Người ta. Đại danh từ nhân xưng ngôi thứ nhất. Đi đâu mà bỏ họ ở nhà một mình?

Hử: Hả. Thường đứng cuối câu hỏi, hàm ý giận dữ. Mi có nhớ mi hứa với tau cái gì không, hử?

Khí: Con người, đồ vật chẳng ra gì. Thằng khí nớ không làm được việc chi hết. Cái xe khí này mà chạy răng được?

Khía cạnh: Nói châm chọc. Thôi, ông đừng khía cạnh tôi nữa.

Khính: Chẳng ra gì (hàm ý khinh bỉ). Cái đồ làm ăn như khính!

Khò: Cái gì được kết dính lại bằng lửa. Đào vàng ba năm, anh X chỉ kiếm được mấy chỉ vàng khò.

Khu đĩ: Chỗ vách nhà hình tam giác đỡ lấy hai mái nhà. Nước lụt lên rất nhanh khiến nhiều bà con phải trổ khu đĩ thoát ra, leo lên ngồi trên mái nhà.

Khù: Khờ, không biết gì. Ba mươi tuổi mà hắn vẫn khù như con nít.

Kinh: Quá. Chu, cái ông ni dễ thương kinh! (Quảng Nam hay cãi – Vũ Đức Sao Biển).

Lả: Không đứng đắn, không nghiêm túc. Làm con gái thì đừng có lả.

Lộn thin lộn mồng: Đầu óc hồ đồ, lộn lạo các thứ không nhớ ra. Mi đi chơi, tau đánh cho mi lộn thin lộng mồng!

Lù đu: Không phát triển, không lớn, không cao. Vùng đất cát lại thiếu nước nên trồng cây chi cũng lù đu. Mười tám tuổi rồi mà hắn lù đu như rứa đó.

Mắc tịt: Mắc cỡ. Xấu hổ. Mặc xà lỏn mà đi ngoài đàng, không biết mắt tịt.

Mằn: Sờ sẫm. Mân mê. Tối ba mươi Tết, Tết ba mươi/ Chồng mằn ngực vợ, vợ cười tươi/ Ông bà phán hỏi: Làm chi rứa?/ – Vui! (Thơ yết hậu dân gian Quảng Nam).

Mít: Dốt. Chịu thua, không trả lời được. Anh hỏi tới chữ nghĩa thì tui mít. Cái thằng nớ đi học nhưng vẫn mít như không đi học.

Mỵ: Lạ lùng, không giống ai. Chớ mi làm cái chi mà mỵ rứa mi?

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

Nhất Nam và đất tổ Thanh Hóa

Chưởng môn Ngô Xuân Bính truyền thụ cho môn sinh.

Chưởng môn Ngô Xuân Bính truyền thụ cho môn sinh.

Võ Nhất Nam được phát triển mạnh mẽ dưới thời nhà Lê (1428 – 1788). Đây là môn võ mang đậm chất thuần Việt đã được tồn tại trong dân gian vùng Thanh – Nghệ từ trước đó khá lâu. Như nhiều phái võ dân tộc khác, Võ Nhất Nam cũng chịu những biến động lớn từ lịch sử và dần mất đi hình ảnh của mình. Mãi đến những năm 1980 của thế kỉ trước, võ sư Ngô Xuân Bính kế tục sự nghiệp gánh vác trách nhiệm Chưởng môn. Võ Nhất Nam dần tìm lại được hình ảnh và xây dựng lại được các Liên đoàn Võ Nhất Nam trên toàn thế giới.

Cuộc hành trình về đất tổ.

Võ Nhất Nam có nguồn gốc từ Võ Héc của vùng Châu Hoan, Châu Ái (Vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh ngày nay). Theo một số người am hiểu về võ thuật cho rằng: Tâm pháp của Nhất Nam phù hợp với đặc điểm địa hình và vóc dáng con người Việt, nên rất có thể môn phái này đã ra đời từ rất sớm. Võ Nhất Nam mang đậm tính văn hóa dân gian làng xã, ẩn mình trong các làng quê, dòng họ. Vì vậy Nhất Nam được coi là môn võ mang đậm tính thuần Việt.

Lễ dâng hương tưởng nhớ vị anh hùng Thủy sư Đô đốc Lê Trung Giang

Lễ dâng hương tưởng nhớ vị anh hùng Thủy sư Đô đốc Lê Trung Giang

Tương truyền rằng Võ Nhất Nam chính thức do Thủy sư Đô đốc Lê Trung Giang tại xã Hoằng Ngọc (Huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa) dưới thời nhà Lê quy tập, hình thành và phát triển mạnh mẽ thành một môn phái riêng.

Nhất Nam đã có vai trò to lớn trong việc rèn bình cho nghĩa quân Lam Sơn dành thắng lợi. Thế nhưng vì những biến thiên của lịch sử, Nhất Nam cũng như nhiều môn võ khác đã bị lù mờ. Mãi tới năm 1983, Nhất Nam mới được võ sư Chưởng môn Ngô Xuân Bính khôi phục lại các lò võ đầu tiên tại Hà Nội.

Là một môn võ dân tộc, ra đời và phát triển trong nước, nhưng Võ Nhất Nam lại sớm định hình và nổi tiếng ở hải ngoại. Cho đến nay, Võ Nhất Nam đã có trên 32.000 môn sinh, hàng loạt các Liên đoàn võ Nhất Nam có mặt trên 40 thành phố ở các nước như Litva, Belarus, LB Nga, Ukraine…

Sau những chặng đường dài phát triển, ngày 21 và 22/8 âm lịch vừa qua, lần đầu tiên Nhất nam đã có cuộc hành hương về lại đất tổ và xúc tiến thành lập Liên đoàn Võ Nhất Nam tại Việt Nam.

Môn sinh Nhất Nam trên khắp thế giới về bái tổ

Môn sinh Nhất Nam trên khắp thế giới về bái tổ

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT, TƯ LIỆU HÌNH ẢNH | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TRUNG QUỐC VÀ DƯ ÂM 1979 – NỖI ĐAU KHÔNG CỦA RIÊNG AI

Họ là những chiến binh quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Khác với cha anh của họ, những người tham gia cuộc vạn lý trường chinh thống nhất đất nước. Hay gần hơn, là đoàn quân chí nguyện vượt qua dòng sông Áp – Lục để tiến hành cuộc chiến tranh giúp đỡ Bắc Triều Tiên. Họ cũng tham chiến không phải đối đầu với Tưởng Giới Thạch hay liên quân Mỹ – Hàn lần này là với quốc gia láng giềng phương Nam (Việt Nam).

Năm 1979, đối với nhiều người Trung Quốc từ thế hệ 8x về sau này là mới mẻ và xa lạ, nhưng ở Quảng Đông, Quảng Tây thì dư  âm chiến tranh, bài học mà Việt Nam đã dạy cho người Trung Quốc hiểu thế nào là giá trị của sự  sống, thế nào là tình yêu nước của một dân tộc 4000 năm sống trong lửa và máu.

Theo thống kê chính thức được công bố của Trung quốc , trong cuộc chiến Việt – Trung 1979, khoảng 7000 quân nhân tử vong. Trong khi đó, cũng trong các giấy tờ, thông tin dữ liệu, lưu trữ khác năm 1979 cũng của Trung Quốc thống kê con số tử vong là 26000.

Hình ảnh người còn, người mất sau cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung.


nguồn : sina

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT, TƯ LIỆU HÌNH ẢNH | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TRUNG QUỐC ĐỘC ĐẢNG HAY ĐA ĐẢNG?

Chế độ hợp tác đa đảng phái và Hiệp thương chính trị do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo là chế độ chính trị cơ bản của Trung Quốc .

Trung Quốc là một nước có nhiều đảng phái .

Ngoài Đảng cộng sản Trung Quốc nắm quyền ra, còn có 8 đảng phái dân chủ (thêm Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan tổng cộng là 9). Những đảng phái dân chủ này được thành lập trước khi Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, họ ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đây là sự lựa chọn lịch sử trong quá trình hợp tác lâu dài và cùng nhau phấn đấu với Đảng cộng sản Trung Quốc. Đảng cộng sản Trung Quốc và các đảng phái dân chủ lấy Hiến pháp làm chuẩn tắc hoạt động căn bản. Các đảng phái dân chủ độc lập về tổ chức, tận hưởng tự do chính trị, độc lập về tổ chức và bình đẳng trên địa vị pháp luật trong khuôn khổ Hiến pháp. Phương châm cơ bản hợp tác giữa Đảng cộng sản Trung Quốc với các đảng phái dân chủ là “Trường kỳ cùng tồn, giám sát lẫn nhau, đối xử chân thành với nhau, vinh nhục có nhau”.

Các đảng phái dân chủ ở Trung Quốc không phải là đảng đối lập, mà là các đảng phái tham chính. Nội dung cơ bản tham chính của các đảng phái dân chủ là tham gia thảo luận phương châm chính sách nhà nước và việc bầu cử nhà lãnh đạo quốc gia, tham gia quản lý công việc nhà nước, tham gia quy định và thực thi phương châm , chính sách , pháp luật pháp quy nhà nước.

Khi nhà nước áp dụng biện pháp to lớn hoặc quyết địn những vấn đề quan trọng liên quan tới quốc kế dân sinh, Đảng cộng sản Trung Quốc cần phải trước tiên thương lượng với các đảng phái dân chủ và nhân sĩ dân chủ không đảng phái, lắng nghe ý kiến và kiến nghị rộng rãi , rồi mới đưa ra quyết sách; Các đảng phái dân chủ và nhân sĩ không đảng phái có đại biểu với tỷ lệ nhất định trong Quốc hội cũng như Ủy ban thường vụ quốc hội, các ủy ban chuyên môn trường trực, Hội đồng nhân dân các cấp để tham chính , nghị chính và phát huy vai trò giám sát; phát huy đầy đủ vai trò của đảng phái dân chủ và nhân sĩ không đảng phái trong Chính hiệp nhân dân; giới thiệu nhân sĩ trong đảng phái dân chủ và nhân sĩ không đảng nhiệm chức lãnh đạo trong chính quyền các cấp và các cơ quan tư pháp.

Hình thức hợp tác và hiệp thương chính trị chủ yếu bao gồm :

thứ nhất , Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân , Hội nghị hiệp thương chính trị là nơi quan trọng để các đảng phái , các đoàn thể nhân dân và đại biểu các giới tham chính nghị chính.

Thứ hai , các buổi tòa đàm các đảng phái dân chủ và nhân sĩ không đảng phái do Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và các cấp uỷ địa phương triệu tập , thông báo tình hình quan trọng , thương lượng , lắng nghe ý kiến và kiến nghị của họ về vấn đề chính sách phương châm quan trọng , danh sách ứng cử viên của nhà lãnh đạo nhà nước và chính quyền địa phương , danh sách ứng cử viên đại biểu Quốc hội và ủy viên Chính hiệp.

Thứ ba , Đại biểu quốc hội trong các đảng phái dân chủ tham chính nghị chính và phát huy vai trò giám sát với tư cách đại biểu quốc hội trong Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.

Thứ 4 , lựa chọn thành viên trong các đảng phái dân chủ đảm nhiệm lãnh đạo ở Quốc vụ viện , các bộ , ban hữu quan , chính quyền địa phương trên cấp huyện cũng như những ngành hữu quan.

Thứ 5 , giới thiệu thành viện trong các đảng phái dân chủ đủ điều kiện đảm nhiệm lãnh đạo của các cơ quan kiểm sát và thẩm phán .

Danh sách sách các đảng phái tại nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Các chính đảng:

– Đảng Cộng sản Trung Quốc

– Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc (gọi tắt là Dân Cách)

– Đồng minh dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Minh)

– Hội kiến quốc dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Kiến)

– Hội xúc tiến dân chủ Trung Quốc (gọi tắt là Dân Tiến)

– Đảng dân chủ nông công Trung Quốc (gọi tắt là Nông Công Đảng)

– Đảng trí công Trung Quốc (gọi tắt là Trí Công Đảng)

Học xã Cửu Tam

Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan (gọi tắt là Đài Minh)

Các đảng khác

Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định nhân dân có quyền tự do lập hội lập đảng, tuy nhiên sự thực thì ngoài 8 đảng phái dân chủ nói trên, chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không hề phê chuẩn việc thành lập các đảng phái mới, thậm chí còn trấn áp và giam giữ các nhân vật lãnh đạo các đảng phái này. Số ít đoàn thể thông thường do nhân dân thành lập.

Các đảng phái (hoặc tổ chức) do nhân dân thành lập có thể kể đến là:

– Đảng Dân chủ Trung Quốc được thành lập bởi các thành viên trong phong trào dân chủ 1978 và 1989.

– Đảng Tân dân Trung Quốc do Quách Tuyền thành lập tại Nam Kinh vào cuối năm 2007.

– Đảng viên tinh thần Quốc dân đảng Trung Quốc

– Công đảng Trung Quốc

– Đảng Tự do Dân chủ Trung Quốc

– Liên minh Phiếm lam Trung Quốc

– Trung Quốc lục đảng (Đảng Xanh)

– Đảng Nhân quyền Trung Hoa

– Đảng Dân chủ chính nghĩa Trung Quốc do Vương Bỉnh Chương thành lập.

Nguồn: tổng hợp.

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

NGUYỄN AN VÀ TỬ CẤM THÀNH

Nguyễn An (1456), kiến trúc sư tài ba chỉ huy xây dựng cổ thành Bắc Kinh, công trình trị thủy sông Hoàng Hà

Nguyễn An quê vùng Hà Đông, từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng và có biệt tài về kiến trúc. Ông không những có công thiết kế, chỉ huy xây dựng cổ thành Bắc Kinh mà còn có tài trong các công trình trị thủy sông Hoàng Hà (Trung Quốc).

Chưa đầy 16 tuổi, ông đã tham gia các hiệp thợ xây dựng các công trình kiến trúc tuyệt tác” cung vua Trần. Khối óc thông minh và bàn tay tài hoa tuyệt vời của Nguyễn An đã lọt vào mắt Trương Phụ khi hắn chọn bắt những người Việt Nam có tài khéo nghệ tinh đem về dâng vua Minh (Trung Quốc). Minh Thành Tổ thấy Nguyễn An giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc lại cương trực, liêm khiết hiếm thấy nên đã giao cho ông chức thái giám.

Thành Bắc Kinh xây dựng từ thời nhà Nguyên. Vua Minh thấy quá nhỏ hẹp lại chưa vừa ý. Năm 1437 vua Minh giao cho bộ công xây dựng lại. Viên công bộ thị lang là Thái Tin xin 18 vạn dân phu biết nghề “và tốn phí về vật liệu không biết bao nhiêu mà kể”. Vua thấy vậy ủy cho quan thái giám Nguyễn An làm tổng đốc công (tổng công trình sư) xây dựng lại thành Bắc Kinh.

Sách Kinh thành ký thắng của Dương Sĩ Kỳ viết về việc xây dựng thành Bắc Kinh hồi ấy nói rõ: “Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng”. Điều đó có nghĩa là từ vẽ đồ án, thiết kế, đào luyện thợ cho các hạng mục công trình đến chỉ đạo thi công đều do Nguyễn An phụ trách. Việc xây dựng lại thành Bắc Kinh gồm các công trình sau: “Nội thành xây dựng hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ và các công thự các ty. Ngoại thành có cửa Chính Dương có một chính lâu, ba gian nguyệt thanh lâu: cửa Sùng Văn, cửa Tuyên Vũ, cửa Triệu Dương, cửa Phụ Thành, cửa Đồng Trực, Tây Trực và cửa Đức Thắng, mỗi cửa có một chính lâu và một nguyệt thanh lâu. Ngoài các cửa đều dựng một cái bi lâu. Góc thành phía tây dựng một giác lâu. Cùng với các công trình xây dựng ấy còn phải đào một hệ thống hào xây gạch thoát nước, làm chín chiếc cầu đá qua hào dẫn vào thành. Khối lượng công việc cực lớn và phức tạp ấy đòi hỏi người tổng công trình sư chẳng những phải có tài về chuyên môn mà phải có tài tổ chức chỉ đạo. Bộ công xin 18 vạn thợ là dễ hiểu. Vậy mà, bằng sự tính toán của mình, Nguyễn An chỉ xin một vạn binh đang có mặt ở kinh sư lúc đó và chỉ làm trong ba năm chứ không năm năm như bộ công yêu cầu. Điều đó khiến cho triều đình nhà Minh sửng sốt, không ít người tỏ ra nghi ngờ. Song, bằng việc chỉ đạo chính xác, khoa học, toàn bộ công trình kiến trúc đồ sộ ấy đã được hoàn thành trong hơn hai năm. Vua Minh xem Nguyễn An như một “kỳ nhân”, thưởng cho 50 lạng vàng và nhiều vóc nhiễu quý.


Nguyễn An không chỉ là nhà kiến trúc đại tài, có công thiết kế, chỉ huy xây dựng cổ thành Bắc Kinh mà còn là người có tài đóng góp trong các công trình trị thủy sông Hoàng Hà. Những trận lụt lớn vào các năm 1444, 1445, vua Minh đều đặc phái Nguyễn An đến những nơi xung yếu nhất chỉ huy việc hàn khẩu, để lại tấm gương lao động quên mình trong lòng hàng triệu người dân Trung Quốc. Trận lụt lớn năm 1456, đê sông Hoàng Hà ở vùng Trương Thụ (Sơn Đông) bị vỡ, hàn khẩu mãi không được, vua Minh lại phái Nguyễn An đi, chẳng may ông bị bệnh và mất dọc đường. Trước khi mất, Nguyễn An trăng trối: Đem toàn bộ của cải của ông không phải để xây lăng như những người có công thời ấy thường làm, mà là đem phát chẩn cho dân bị lụt ở những nơi Nguyễn An đang đi mà chưa tới.
Tiến sĩ sử học Quỳnh Cư
Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

GIẢI MÃ CHIÊU THỨC CỦA TRẠNG QUỲNH

Giai thoại Trạng Quỳnh dùng mười đầu ngón tay vẽ mười con giun để chiến thắng trong cuộc thi vẽ con vật sau ba hồi trống có ẩn chứa mã số của trí khôn ngoan ứng xử Việt Nam. Bản chất văn hóa của chiêu thức đó là gì?

 

Minh họa : Trạng Quỳnh

Trong thời đại đổi mới và hội nhập có thể áp dụng những trí khôn kiểu Trạng Quỳnh để đưa đất nước đi lên không, hay đã đến lúc phải nói lời chia tay với thói biến báo linh hoạt kiểu khôn vặt đó?

Trò khỏa thân trí tuệ thông minh

Không phải ngẫu nhiên mà bao đời nay người dân Việt Nam lưu truyền giai thoại vẽ giun với một nụ cười khoái trá đầy hãnh diện trước giải pháp thông minh của Trạng Quỳnh khi giải bài toán các vua chúa đặt ra.

Đây là một thắng lợi văn hóa đích thực, tôn vinh trí tuệ dân gian, cho phép người nông dân cười giễu tinh thần hàn lâm kênh kiệu của đám vua quan và nho sỹ khinh dân.

Trạng Quỳnh nhúng mười đầu ngón tay vào nghiên mực không chỉ để vẽ giun, mà chính là để bôi xóa giễu cợt những quy phạm của triều đình, giống như đám trẻ con say mê graffic thích vẽ nguệch ngoạc lên tường những chỗ trang nghiêm nhất để khẳng định mình.

Nhưng khi vẽ giun, Trạng Quỳnh không phải là tín đồ của văn hóa Hip-hop chơi trò chơi “mỹ thuật tội lỗi” của đám người trẻ tuổi hôm nay, mà ông đã chơi trò khỏa thân trí tuệ một cách hợp pháp để lỡm những thế lực ra đề thi, lỡm cả những thí sinh thật thà chúi mũi vào vẽ những con rồng, con phượng phức tạp, nhiêu khê.

Thế nhưng, chiến thắng của Trạng Quỳnh là một thắng lợi chính trị chứ không phải là một kỷ lục văn hóa. Trạng Quỳnh buộc những người tổ chức cuộc thi phải trao giải nhất cho mình vì ông biết tấn công vào cách ra đề mơ hồ của họ.

Đây là chiến thắng của ông Trạng có tài biến báo ngôn từ, chứ không phải chiến thắng của ông Trạng có tài hội họa. Nếu đề ra yêu cầu vẽ con vật cụ thể nào đó sau ba hồi trống, thì Trạng Quỳnh không thể sử dụng sự láu cá của mình để giành phần thắng.

Bí quyết của chiêu thức vẽ giun là cụ thể hoá theo hướng đơn giản đến cùng cực bài toán văn hóa để có thể hoàn thành nhanh nhất, giành lấy phần thắng. Có thể nói, giai thoại vẽ giun với nụ cười thỏa mãn của dân gian tiềm tàng trong đó cũng vô tình là lời tự thú về bản chất đơn giản hoá của tính linh hoạt Việt Nam.

Căn nguyên văn hóa của chiêu thức Trạng Quỳnh

Người Việt có lẽ là một trong những dân tộc linh hoạt nhất hành tinh chúng ta. Tính linh hoạt Việt Nam thường được trình bày như là một phẩm chất mang bản chất sáng tạo và phản giáo điều. Điều đó về cơ bản đúng, nhưng không bao quát hết bản chất văn hóa và tính chất hai mặt của phẩm chất này.

Bản chất của tính linh hoạt đó là văn hoá Việt tạo cho mỗi cá nhân trong cộng đồng một khoảng trống tự do sáng tạo và định hình cái chung, tạo cho con người Việt Nam một khoảng không bao la để triển khai sáng tạo cá nhân tham góp nhân cách và trí tuệ của mình vào tiến trình cụ thể hoá các chuẩn mực xã hội.

Trong đời sống, người Việt coi trọng tinh thần cụ thể. Thái độ coi trọng cái cụ thể xuất phát từ văn hóa trọng tình. Với người Việt, mỗi con người cụ thể, mỗi đồ vật cụ thể là một thế giới độc nhất vô nhị không thể nào thay thế cho nhau, vì mỗi người mỗi vật đều bắt rễ sâu vào tình cảm cộng đồng theo một cách riêng.

Vì thế, thằng Bờm lưu luyến mãi cái quạt mo cụ thể của mình kiên quyết không đổi cho phú ông lấy ba bò chín trâu xa vời trừu tượng. Bờm chỉ chịu đổi khi phú ông đưa ra một nắm xôi cụ thể gần gũi, nó có thể cầm ăn. Ca dao Việt Nam có không ít những câu khuyên con người ứng xử linh hoạt theo từng tình huống cụ thể.

Phương châm “Tùy” “Lựa”, “Liệu” (“Tuỳ mặt đặt tên, tuỳ tiền biện lễ”, “Lựa lời mà nói”, “Lựa gió xoay chiều”, “Liệu bò đo chuồng”, “Liệu cơm gắp mắm”…) là phương châm sống có bản chất thích nghi với cái cụ thể. Mỗi cá nhân phải tự mình thăm dò từng cái cụ thể để sáng tạo ra những giải pháp, những ứng xử phù hợp nhất.

Văn hoá Việt không áp đặt chi tiết những quy chuẩn đạo đức và thẩm mỹ, nó nhường cho cá nhân, cho khu vực địa lý và cho giới tính những mảnh đất sáng tạo riêng và chịu trách nhiệm với sáng tạo này.

Trong nghệ thuật, người Việt cũng dành cho cá nhân quyền sáng tạo tối đa trong những không gian ước lệ, những quy ước thoáng đãng. Người diễn viên trên sân khấu chèo là phù thuỷ không gian, anh ta làm công việc cụ thể hoá không gian trong dòng chảy thời gian.

Anh ta vừa mới chia tay người yêu ở sân đình, lượn một vòng với vài câu hát và điệu múa, không gian ấy đã trở thành biển cả, núi cao. Theo động tác, lời ca, cái không gian cụ thể được cất giấu, tàng hình bỗng hiện diện sinh động trước mắt ta trên cái nền trắng của khoảng không ước lệ.

Người nghệ sĩ Việt Nam khi chơi đàn trong dàn nhạc cũng có một khoảng tự do riêng như vậy – anh ta không bị câu thúc bởi các qui định chi tiết của tổng phổ như các nghệ sĩ phương Tây trong truyền thống của họ. Anh ta tuỳ ý biến báo, luyến láy, cụ thể hoá để bằng trực giác nghệ thuật tham góp vào âm thanh tổng thể của cả dàn nhạc.

Tính ước lệ của tư duy nghệ thuật đã tạo khoảng không gian thoáng đãng cho người nghệ sĩ cụ thể hoá một cách sáng tạo, mỗi lúc một khác tuỳ theo cảm hứng, trực giác. Trực giác nghệ sĩ đã giúp anh ta thăm dò mỗi khoảnh khắc để tìm ra câu trả lời cụ thể cho giải pháp nghệ thuật.

Cũng như trong cuộc đời không có mệnh lệnh chung, không có câu trả lời chung, có lý nhưng có tình, phép vua thua lệ làng – người nghệ sĩ Việt Nam chỉ bị ràng buộc bởi những điểm hẹn nơi hội tụ những tự do sáng tạo cá nhân cho một hiệu quả chung.

Chính quyền năng tự do sáng tạo cái cụ thể mà văn hóa Việt đã trao cho mỗi cá nhân ấy đã trở thành cái xung năng văn hóa dẫn đến chiêu thức vẽ giun của Trạng Quỳnh. Như một nghệ sỹ chèo dùng vũ đạo cụ thể hóa khoảng không sân khấu thành núi non sông nước, Trạng Quỳnh đã dùng những ngón tay thay bút cụ thể hóa đề thi trừu tượng thành những con giun.

Phải tra vấn truyền thống linh hoạt biến báo

Bí quyết Trạng Quỳnh quả là đã từng phát huy tác dụng trong lịch sử. Trong các cuộc chiến tranh giành độc lập, để huy động sức mạnh toàn dân, chúng ta phải đơn giản hoá lý tưởng, cụ thể hoá các nhiệm vụ chính trị quân sự, loại trừ tối đa tính chất lý thuyết suông và mọi cách hình dung vấn đề quá phức tạp, cao siêu.

Nhưng bí quyết Trạng Quỳnh cũng có mặt trái của nó là: thói quen cụ thể hoá, đơn giản hoá đã trở thành một truyền thống linh hoạt mang tính vô nguyên tắc, vô chính phủ, cản trở sự phát triển của tư duy khoa học và các quan hệ hợp tác quốc tế vì những mục tiêu chung. Tư duy khoa học đòi hỏi sự tôn trọng và hiểu biết lý thuyết trong tính trừu tượng và tính tổng thể phức tạp của nó.

Hợp tác quốc tế đòi hỏi thái độ tôn trọng luật chơi, và thiện chí trong quá trình cụ thể hoá, chi tiết hoá những điều thoả thuận. Trên thực tế tính linh hoạt Việt Nam đã nhiều khi dẫn đến các hành vi phá huỷ hệ thống để thắng trong chi tiết. Chàng Trạng Quỳnh đối phó với vua quan phong kiến có thể cười ngạo nghễ vì chiến thắng vẽ giun trong cuộc thi tài.

Nhưng những chàng Trạng Quỳnh trong các cuộc đua tài quốc tế có thể nào giành chiến thắng chỉ bằng cách đơn giản và linh hoạt theo kiểu mua đề thi, quay cóp hay mua giò đội bạn được không? Hơn thế nữa còn giễu cợt tinh thần chuyên môn và sự thật thà tuân theo quy chuẩn?

Không phải ngẫu nhiên hiện nay chúng ta đang gắn tính linh hoạt truyền thống với thái độ khôn vặt cần phải vượt qua. Khi Trạng Quỳnh cụ thể hoá đề thi theo hướng đơn giản nhất, dễ làm nhất để chiến thắng, ông đã bộc lộ trí thông minh dân gian trong việc lố bịch hoá những thách đố của quyền lực phong kiến.

Nhưng chiến thắng đó dễ dãi. Nếu như Trạng Quỳnh vẽ được mười con rồng trong ba hồi trống thì chiến thắng vẻ vang hơn, nó bộc lộ tài năng đích thực của con người khi giải quyết những bài toán hóc búa nhất trong đời sống bằng trình độ chuyên môn cao.

Chúng ta vẫn có thể vui và tự hào với chiến thắng của Trạng Quỳnh như một chiến thắng chính trị trong đấu tranh giai cấp, nhưng chúng ta cần giáo dục thái độ dũng cảm dám đối diện, đối đầu với những bài toán hóc búa nhất, phức tạp nhất của lịch sử và văn hoá.

Nghĩa là phải tra vấn chính bản thân truyền thống linh hoạt của chúng ta để vươn lên một đức hạnh cao hơn, một linh hoạt có tầm khoa học và có tầm nhân loại. Thậm chí, biết dừng lại, biết thua, biết nhẫn nhục để tiếp tục tích luỹ, học hỏi, tìm hiểu bài toán khó đó sẽ đưa chúng ta đến những cơ hội chiến thắng vẻ vang hơn và thuyết phục hơn. Nếu chỉ tìm cách thắng bằng mọi giá sẽ dẫn đến huỷ hoại tư duy khoa học, đánh tráo đề thi và phá hoại luật chơi.

Truyền thống linh hoạt mang tính cụ thể hoá và đơn giản hoá không chỉ tiềm ẩn những yếu tố gây ra những xung năng phản phát triển trong văn hoá, mà có thể còn làm phân hoá cộng đồng trong xu hướng cá thể hoá, gây mất ổn định về chính trị và kinh tế.

Xu hướng linh hoạt, cụ thể hoá và đơn giản hoá để thắng bằng mọi giá sẽ trở thành lực ly tâm lớn nhất chi phối trong chiều sâu tâm thức. Những biểu tượng chung, những giá trị chung, những phẩm chất chung, những chiến lược chung, những nhiệm vụ chung khi đi vào thực tế cuộc sống dễ bị tính linh hoạt truyền thống phân hủy biến thành những nhiệm vụ đơn giản, những lợi ích cá nhân do mỗi người mỗi nơi lại “tuỳ”, “lựa”, “liệu” theo cách của mình, đơn giản hoá nhiệm vụ theo sở thích riêng và thế mạnh riêng, dẫn đến tình trạng chuyển động Braonơ trong toàn xã hội. Truyền thống linh hoạt sáng tạo biện minh cho sự phá huỷ lý thuyết, phá huỷ chiến lược và phá huỷ tổ chức.

Lợi ích cá nhân phá huỷ lợi ích chung. Đó là cấu trúc bề sâu của tình trạng tham nhũng, hỗn loạn, bán lẻ đất nước, địa phương chủ nghĩa, cơ hội và vọng ngoại khá phổ biến hiện nay.

Theo: An Ninh Thế Giới

Categories: TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

KÝ ỨC HÀM RỒNG – NGÔ THỊ TUYỂN

Người phụ nữ đã vào tuổi xế chiều, mái tóc ngả màu muối tiêu, trên khuôn mặt chữ điền đã xô nhiều nếp nhăn, nhưng từ ánh mắt, nụ cười vẫn toát lên vẻ thân thiện và cương nghị của một nữ anh hùng xứ Thanh…

Sau nhiều lần hẹn gặp không thành do lịch làm việc của cô quá dày đặc, cuối cùng tôi cũng gặp được cô vào một buổi chiều cuối tháng 3, khi nhân dân tỉnh Thanh Hoá đang ráo riết chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 45 năm Hàm Rồng chiến thắng. Cô là Ngô Thị Tuyển – người con gái năm xưa vác trên vai một lúc hai hòm đạn xông ra giữa trận tuyến “tiếp lửa” cho bộ đội.

Hình ảnh người con gái Ngô Thị Tuyển vác đạn năm xưa (ảnh tư liệu)

Hình ảnh người con gái Ngô Thị Tuyển vác đạn năm xưa (ảnh tư liệu)

Bằng chất giọng đầm ấm, cô hồi tưởng lại những ngày đạn bom bi hùng. Sáng ngày 3/4/1965, khi đó đạn pháo 37 li trên tàu gần cạn kiệt, chỉ cần ta ngừng bắn trả một phút là cây cầu Hàm Rộng có thể bị phá huỷ. Trong khi đó, trên bầu trời Hàm Rồng, máy bay địch gầm rú điên cuồng. Ý nghĩ cần phải tải đạn ra cho đồng đội thôi thúc cô.

Lúc đó hai hòm đạn đang dính vào nhau không tách ra được, tình thế cấp bách giữa sự sống và cái chết, cô gái trẻ Ngô Thị Tuyển quả quyết nhờ đồng đội nâng hai hòm đạn lên vai. Chính cô cũng không ngờ mình có đủ sức vác đạn chạy băng băng về phía sông.
Đêm hôm ấy, máy bay địch thi nhau trút bom xuống khu vực cầu Hàm Rồng, nhiều như “vãi trấu”. 20 đồng đội của cô đã hy sinh.

Có lần để chứng minh cho các nhà báo phương Tây thấy sức mạnh của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, cô Tuyển đã vác lên vai một bao khoai tây và một bao gạo với tổng trọng lượng 105kg, dù sau đó lưng cô đau nhói.

Cũng trong năm 1965, cô Tuyển lập gia đình. Đúng 5 ngày sau ngày cưới, chồng cô có lệnh lên đường sang Nam Lào chiến đấu và hy sinh. Đó là 5 ngày quá ngắn ngủi duy nhất trong cuộc sống vợ chồng đầu tiên của cô.

Sau ngày hòa bình lập lại, cô vinh dự được chọn là một trong những đại biểu Thanh Hoá đi dự Đại hội liên hoan anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ 4 (28/12/1966), Anh hùng LLVTND do Nhà nước trao tặng, Huy hiệu Bác Hồ (1967) và nhiều danh hiệu cao quý khác…

Và điều hạnh phúc nhất đối với cô là ba lần được gặp Bác Hồ.

Niềm vinh dự được Chủ tịch Quốc Hội tặng quà

Niềm vinh dự được Chủ tịch Quốc Hội tặng quà

Những huân huy chương, những phần thưởng cao quý không khỏa lấp được nỗi khát khao làm mẹ của cô Tuyển. Năm 1978, cô quyết định đi thêm bước nữa với ông Nguyễn Văn Nụ, một thương binh quê Hưng Yên. Niềm hạnh phúc chưa trọn, ông Nụ lại nhiễm chất độc màu da cam, không còn khả năng sinh con.

Cô và chồng đành nương tựa vào nhau và nhận nuôi cháu Diệu Linh – con của một đồng đội đã hy sinh – nên người.

Ngoài những phụ cấp của Nhà nước về vật chất, cô Tuyển còn tăng gia sản xuất, chăm lo gia đình và tham gia các phong trào của địa phương. Đặc biệt, dù cuộc sống còn khó khăn nhưng mỗi năm cô đều dành 10 phần quà, mỗi phần trị giá 600 ngàn đồng trao cho các học sinh nghèo vượt khó học giỏi trên địa bàn thành phố Thanh Hóa.

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

DẠY CHỦ QUYỀN HOÀNG SA – TRƯỜNG SA CHO TRẺ VỠ LÒNG TỪ THỜI TỰ ĐỨC

Từ năm Tự Đức thứ sáu (1853) đã có sách dạy trẻ em học vỡ lòng, trong đó khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của nước ta – Anh Trần Văn Quyến, giảng viên khoa Xã hội-Nhân văn (ĐH Phú Xuân – Huế), chuyên nghiên cứu về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định.

Bản quốc địa đồ có Hoàng Sa Chử (phần trong ô vuông).

Bản quốc địa đồ có Hoàng Sa Chử (phần trong ô vuông).

Theo anh Quyến, sách Khải đồng thuyết ước bằng chữ Hán gồm 2 quyển: thượng, hạ do tác giả Phạm Vọng (hiệu Trúc Đường), Ngô Thế Vinh (hiệu Khúc Giang) biên soạn và Dương Đình (1802 – 1856) quê xã Bái Dương, huyện Nam Chân (nay là huyện Nam Trực, Nam Định) nhuận sắc. Tác giả Phạm Vọng, tự Phục Trai, hiệu Kim Giang, người làng Kim Đô, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, đậu Cử nhân năm Thiệu Trị Tân Sửu (1841). Sách in trên ván gỗ, giấy bản thường, gồm 44 tờ, mỗi tờ 2 trang, mỗi trang có 6 dòng, mỗi dòng 16 chữ, khắc to rõ ràng, viết theo lối văn tứ tự có vần, mỗi câu có 4 chữ, 4 câu hai vần, các thanh bằng, trắc thay đổi nhịp nhàng, nhằm giúp người mới học đọc thuận miệng, dễ học thuộc lòng…

Khải đồng thuyết ước dạy sử Việt Nam, sản vật, các kiến thức về xã hội (nhân sự, niên hiệu nước Việt Nam qua các đời); thiên nhiên (thiên văn, địa lý); cách tu dưỡng bản thân, có hình vẽ bản đồ Việt Nam, mặt trời, mặt trăng, thân thể con người, bí quyết về việc xem vận số…

Đặc biệt, trong các trang 15–16 có vẽ Bản quốc địa đồ (Bản đồ nước ta) với phần khẳng định rõ ràng Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Trên bản đồ ghi vị trí các tỉnh và các ngọn núi lớn, từ cửa Nam Quan đến Biên Hòa, Vĩnh Long. Sau đó là những ghi chú số phủ, huyện, tổng, xã, phường, ấp, giáp, của từng tỉnh. Phần ngoài biển, đối diện địa phận Thừa Thiên và Quảng Nam trong bản đồ có ghi chú về quần đảo Hoàng Sa với ba chữ: Hoàng Sa Chử, nghĩa là Bãi (hay quần đảo) Hoàng Sa.

Khải đồng thuyết ước được khắc nhiều lần qua các triều vua. Vì thế, trong nhiều gia đình và các kho tư liệu vẫn còn cuốn sách này. Viện nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện quốc gia đều lưu giữ Khải đồng thuyết ước là sách được sử dụng trong các trường học của nước ta ngay từ đầu đời Tự Đức cũng như sách giáo khoa ngày nay, với ghi chú về quần đảo Hoàng Sa cho thấy ý thức chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa đã được xác nhận vững chắc. Bản quốc địa đồ thêm một chứng cứ về chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn.

Thêm tư liệu mới về chủ quyền “dải Trường Sa”

Mới đây anh Quyến công bố sử liệu Nam Hà tiệp lục (tác giả Lê Đản, 1742 – ?), góp thêm một tư liệu mới về chủ quyền dải Trường Sa (Bãi Cát Vàng) và đội Hoàng Sa. Nam Hà tiệp lục được Lê Đản hoàn thành năm 1811. Đây là bộ sách có giá trị, ghi chép về lịch sử, văn hóa và phong tục tập quán của Đàng Trong. Sách tuy gọn nhưng có nhiều tài liệu mới. Khi nghiên cứu về Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, từ Gia Long về trước, có thể dùng sách này làm tài liệu tham khảo quý giá cùng với các sách: Ô Châu cận lục của Dương Văn An; Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Nam Hà ký văn của Đặng Trọng An; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức…

Trong đó, những ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa và Đội Hoàng Sa nằm ở phần Tài Lợi, Sơn xuyên hình thắng và Phong vực trong sách bao gồm 3 đoạn. Cụ thể, đoạn 1 (thuộc quyển 2, phần Tài Lợi) phiên âm Đại Chiêm hải môn, hải trung hữu trường sa, danh Bãi Cát Vàng. Tự Đại Chiêm hải môn chí Trường Sa ước ngũ lục bách lý, khoát tam tứ thập lý, trác lập hải trung Tây Nam phong tắc chư quốc thuyền tao phiêu bạc tại thử. Đông Bắc phong ngoại việt diệc phiêu bạc tại thử, tịnh giai ngạ tử, tài hoá đôi tích. Mỗi niên quý đông tương thuyền thập bát chích tác thủ. Nhất vân tứ nguyệt vãng thất nguyệt hồi. Thử xứ sản đại mạo – (Cửa biển Đại Chiêm, giữa biển có dải Trường Sa gọi là Bãi Cát Vàng. Từ cửa biển Đại Chiêm đến Trường Sa chừng năm sáu trăm dặm, rộng chừng ba bốn mươi dặm, đứng giữa biển. Mùa gió tây nam thì tàu bè các nước phiêu bạt vào đó. Đến mùa gió đông bắc từ ngoài vào cũng phiêu bạt vào đây, đều bị chết đói, của cải được tích tụ ở đây. Hằng năm đến cuối đông 18 chiếc thuyền được đưa ra đây để nhặt lấy những của cải ấy. Có chỗ nói tháng 4 đi tháng 7 về. Nơi đây cũng sản sinh nhiều đồi mồi).

Giảng viên Trần Văn Quyến Ảnh: Nguyễn Huy .

Giảng viên Trần Văn Quyến Ảnh: Nguyễn Huy .

Tại đoạn 2, quyển 3, phần Sơn xuyên hình thể ghi rõ: Đại Chiêm hải môn, hải trung hữu Trường Sa Châu, danh bãi Cát Vàng. Tự Chiêm môn chí Sa châu ước ngũ lục bách lý, khoát tam tứ thập lý, trác lập hải trung – (Cửa Đại Chiêm, giữa biển có cồn nổi Trường Sa, tên là Bãi Cát Vàng. Từ cửa Đại Chiêm đến Sa Châu (Hoàng Sa) ước chừng năm sáu trăm dặm. Sa Châu rộng chừng ba bốn mươi dặm, nổi lên giữa biển…).

Trong lời bạt, tác giả Lê Đản viết: “Nghe thấy nói trong cùng quận (tỉnh) tôi, các nhà họ Lê [tức Lê Quý Đôn (1726-1784)] ở Diên Hà, họ Uông [tức Uông Sĩ Lãng (1733 – 1802)] ở Vũ Nghị, nhà thì đời trước có sách Phủ biên tạp lục, nhà thì có sách Nam hành tiểu ký, tôi cũng chưa kịp hỏi mượn mà xem”, tức là tác giả không được tham khảo các sách có viết về Hoàng Sa trước đó. Tuy nhiên khi đọc Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn hay phần Dư địa chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú đều thấy có những khảo tả tương tự về Hoàng Sa và hoạt động của đội Hoàng Sa như trong Nam Hà tiệp lục. Các sách trên tuy không tham khảo nhau nhưng những ghi chép về Hoàng Sa và đội Hoàng Sa là tương đối thống nhất, cho thấy những hiểu biết về Hoàng Sa đến cuối thế kỷ XVIII đã rất phổ biến.

Rõ ràng, cùng với các sử liệu trước đó của Việt Nam và cả Trung Quốc, như: Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư (của Đỗ Bá, 1687), Hải Ngoại kỷ sự (hòa thượng Thích Đại Sán, Triết Giang – Trung Quốc, 1696), Phủ biên tạp lục (1776)…, Nam Hà tiệp lục góp thêm tư liệu mới về hoạt động thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa và đội Hoàng Sa.

Phát hiện sách giáo khoa có Hoàng Sa Chử như Khải đồng thuyết ước thì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và mới nhất. Cho thấy ý thức chủ quyền biển đảo luôn được giáo dục, phát huy từ trước đến nay – TS Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu KT-XH TP Đà Nẵng

Nguyễn Huy ( báo Tiền Phong)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

HỊCH TƯỚNG SĨ – TRẦN HƯNG ĐẠO

Bản văn Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo như một bản hùng ca thổi bừng hào khí Đông A vang dội khắp non sông vẫn còn đó, được bao thế hệ người Việt tiếp thu và lĩnh hội ý chí quật cường của cha ông.

諭諸裨將檄文

余常聞之
紀信以身代死而脫高帝
由于以背受戈而蔽招王
蓣讓吞炭而復主讎
申蒯断臂而赴國難
敬德一小生也身翼太宗而得免世充之圍
杲卿一遠臣也口罵禄山而不從逆賊之計
自古忠臣義士以身死國何代無之
設使數子區區為兒女子之態
徒死牖下烏能名垂竹白
與天地相為不朽哉
汝等
世為將種不曉文義
其聞其說疑信相半
古先之事姑置勿論
今余以宋韃之事言之
王公堅何人也
其裨將阮文立又何人也
以釣魚鎖鎖斗大之城
當蒙哥堂堂百萬之鋒
使宋之生靈至今受賜
骨待兀郎何人也
其裨將赤脩思又何人也
冒瘴厲於萬里之途
獗南詔於數旬之頃
使韃之君長至今留名
況余與汝等生於擾攘之秋
長於艱難之勢
竊見偽使往來道途旁午
掉鴞烏之寸舌而陵辱朝廷
委犬羊之尺軀而倨傲宰祔
托忽必列之令而索玉帛以事無已之誅求
假雲南王之號而揫金銀以竭有限之傥庫
譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉
余常
臨餐忘食中夜撫枕
涕泗交痍心腹如搗
常以未能食肉寢皮絮肝飲血為恨也

余之百身高於草野
余之千屍裹於馬革
亦願為之
汝等
久居門下掌握兵權
無衣者則衣之以衣
無食者則食之以食
官卑者則遷其爵
祿薄者則給其俸
水行給舟陸行給馬
委之以兵則生死同其所為
進之在寢則笑語同其所樂
其是
公堅之為偏裨兀郎之為副貳亦未下爾
汝等
坐視主辱曾不為憂
身當國恥曾不為愧
為邦國之將侍立夷宿而無忿心
聽太常之樂宴饗偽使而無怒色
或鬥雞以為樂或賭博以為娛
或事田園以養其家
或戀妻子以私於己
修生產之業而忘軍國之務
恣田獵之遊而怠攻守之習
或甘美酒或嗜淫聲
脱有蒙韃之寇來
雄雞之距不足以穿虜甲
賭博之術不足以施軍謀
田園之富不足以贖千金之軀
妻拏之累不足以充軍國之用
生產之多不足以購虜首
獵犬之力不足以驅賊眾
美酒不足以沈虜軍
淫聲不足以聾虜耳
當此之時我家臣主就縛甚可痛哉
不唯余之采邑被削
而汝等之俸祿亦為他人之所有
不唯余之家小被驅
而汝等之妻拏亦為他人之所虜
不唯余之祖宗社稷為他人之所踐侵
而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘
不唯余之今生受辱雖百世之下臭名難洗惡謚長存
而汝等之家清亦不免名為敗將矣
當此之時汝等雖欲肆其娛樂
得乎
今余明告汝等
當以措火積薪為危
當以懲羹吹虀為戒
訓練士卒習爾弓矢
使
人人逄蒙家家后羿
購必烈之頭於闕下
朽雲南之肉於杲街
不唯余之采邑永為青氈
而汝等之俸祿亦終身之受賜
不唯余之家小安床褥
而汝等之妻拏亦百年之佳老
不唯余之宗廟萬世享祀
而汝等之祖父亦春秋之血食
不唯余之今生得志
而汝等百世之下芳名不朽
不唯余之美謚永垂
而汝等之姓名亦遺芳於青史矣
當此之時汝等雖欲不為娛樂
得乎
今余歷選諸家兵法為一書名曰兵書要略
汝等
或能專習是書受余教誨是夙世之臣主也
或暴棄是書違余教誨是夙世之仇讎也
何則
蒙韃乃不共戴天之讎
汝等記恬然不以雪恥為念不以除凶為心
而又不教士卒是倒戈迎降空拳受敵
使平虜之後萬世遺羞
上有何面目立於天地覆載之間耶
故欲汝等明知余心因筆以檄云

Dụ chư tỳ tướng hịch văn

Dư thường văn chi:
Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế;
Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương.
Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù;
Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn.
Kính Đức nhất tiểu sinh dã, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi;
Cảo Khanh nhất viễn thần dã, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất tòng nghịch tặc chi kế.
Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi?
Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ tử chi thái,
Đồ tử dũ hạ, ô năng danh thùy trúc bạch,
Dữ thiên địa tương vi bất hủ tai!
Nhữ đẳng
Thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa,
Kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán.
Cổ tiên chi sự cô trí vật luận.
Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi:
Vương Công Kiên hà nhân dã?
Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dã?
Dĩ Điếu Ngư tỏa tỏa đẩu đại chi thành,
Đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong,
Sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ!
Cốt Đãi Ngột Lang hà nhân dã?
Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu hà nhân dã?
Mạo chướng lệ ư vạn lý chi đồ,
Quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh,
Sử Thát chi quân trưởng chí kim lưu danh!
Huống dư dữ nhữ đẳng, Sinh ư nhiễu nhương chi thu;
Trưởng ư gian nan chi tế.
Thiết kiến ngụy sứ vãng lai, đạo đồ bàng ngọ.
Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đình;
Ủy khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ.
Thác Hốt Tất Liệt chi lệnh nhi sách ngọc bạch, dĩ sự vô dĩ chi tru cầu;
Giả Vân Nam Vương chi hiệu nhi khu kim ngân, dĩ kiệt hữu hạn chi thảng hố.
Thí do dĩ nhục đầu nỗi hổ, ninh năng miễn di hậu hoạn dã tai?
Dư thường
Lâm xan vong thực, Trung dạ phủ chẩm,
Thế tứ giao di, Tâm phúc như đảo.
Thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhứ can ẩm huyết vi hận dã.
Tuy
Dư chi bách thân, cao ư thảo dã;
Dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách,
Diệc nguyện vi chi.
Nhữ đẳng
Cửu cư môn hạ, Chưởng ác binh quyền.
Vô y giả tắc ý chi dĩ y;
Vô thực giả tắc tự chi dĩ thực.
Quan ti giả tắc thiên kỳ tước;
Lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng.
Thủy hành cấp chu; Lục hành cấp mã.
Ủy chi dĩ binh, tắc sinh tử đồng kỳ sở vi;
Tiến chi tại tẩm, tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc.
Kỳ thị
Công Kiên chi vi thiên tì, Ngột Lang chi vi phó nhị, Diệc vị hạ nhĩ.
Nhữ đẳng
Tọa thị chủ nhục, tằng bất vi ưu;
Thân đương quốc sỉ, tằng bất vi quý.
Vi bang quốc chi tướng, thị lập di tú nhi vô phẫn tâm;
Thính thái thường chi nhạc, yến hưởng ngụy sứ nhi vô nộ sắc.
Hoặc đấu kê dĩ vi lạc; Hoặc đổ bác dĩ vi ngu.
Hoặc sự điền viên dĩ dưỡng kỳ gia;
Hoặc luyến thê tử dĩ tư ư kỷ.
Tu sinh sản chi nghiệp, nhi vong quân quốc chi vụ;
Tứ điền liệp chi du, nhi đãi công thủ chi tập.
Hoặc cam mỹ tửu; Hoặc thị dâm thanh.
Thoát hữu Mông Thát chi khấu lai,
Hùng kê chi cự, bất túc dĩ xuyên lỗ giáp;
Đổ bác chi thuật, bất túc dĩ thi quân mưu.
Ðiền viên chi phú, bất túc dĩ thục thiên kim chi khu;
Thê noa chi lụy, bất túc dĩ sung quân quốc chi dụng.
Sinh sản chi đa, bất túc dĩ cấu lỗ thủ;
Liệp khuyển chi lực, bất túc dĩ khu tặc chúng.
Mỹ tửu bất túc dĩ trấm lỗ quân;
Dâm thanh bất túc dĩ lung lỗ nhĩ.
Ðương thử chi thời, Ngã gia thần chủ tựu phọc, Thậm khả thống tai!
Bất duy dư chi thái ấp bị tước,
Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc vi tha nhân chi sở hữu;
Bất duy dư chi gia tiểu bị khu,
Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc vi tha nhân chi sở lỗ;
Bất duy dư chi tổ tông xã tắc, vi tha nhân chi sở tiễn xâm,
Nhi nhữ đẳng chi phụ mẫu phần mộ, diệc vi tha nhân chi sở phát quật;
Bất duy dư chi kim sinh thụ nhục, tuy bách thế chi hạ, xú danh nan tẩy, ác thụy trường tồn,
Nhi nhữ đẳng chi gia thanh, diệc bất miễn danh vi bại tướng hĩ!
Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục tứ kỳ ngu lạc,
Đắc hồ?
Kim dư minh cáo nhữ đẳng,
Đương dĩ thố hỏa tích tân vi nguy;
Đương dĩ trừng canh xuy tê vi giới.
Huấn luyện sĩ tốt; Tập nhĩ cung thỉ.
Sử
Nhân nhân Bàng Mông; Gia gia Hậu Nghệ.
Cưu Tất Liệt chi đầu ư khuyết hạ;
Hủ Vân Nam chi nhục ư cảo nhai.
Bất duy dư chi thái ấp vĩnh vi thanh chiên,
Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc chung thân chi thụ tứ;
Bất duy dư chi gia tiểu đắc an sàng nhục,
Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc bách niên chi giai lão;
Bất duy dư chi tông miếu vạn thế hưởng tự,
Nhi nhữ đẳng chi tổ phụ diệc xuân thu chi huyết thực;
Bất duy dư chi kim sinh đắc chí,
Nhi nhữ đẳng bách thế chi hạ, phương danh bất hủ;
Bất duy dư chi mỹ thụy vĩnh thùy,
Nhi nhữ đẳng chi tính danh diệc di phương ư thanh sử hĩ.
Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục bất vi ngu lạc,
Đắc hồ!
Kim dư lịch tuyển chư gia binh pháp vi nhất thư, danh viết Binh thư yếu lược.
Nhữ đẳng
Hoặc năng chuyên tập thị thư, thụ dư giáo hối, thị túc thế chi thần chủ dã;
Hoặc bạo khí thị thư, vi dư giáo hối, thị túc thế chi cừu thù dã.
Hà tắc?
Mông Thát nãi bất cộng đái thiên chi thù,
Nhữ đẳng ký điềm nhiên, bất dĩ tuyết sỉ vi niệm, bất dĩ trừ hung vi tâm,
Nhi hựu bất giáo sĩ tốt, thị đảo qua nghênh hàng, không quyền thụ địch;
Sử bình lỗ chi hậu, vạn thế di tu,
Thượng hữu hà diện mục lập ư thiên địa phú tái chi gian da?
Cố dục nhữ đẳng minh tri dư tâm, Nhân bút dĩ hịch vân.

Hịch tướng sĩ

Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín 紀 信 liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu 由 于 lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dư Nhượng 豫 讓 nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái 申 蒯 chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức 敬 德 là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh 杲 卿 là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn 祿 山 là quân nghịch-tặc. Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả-sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà thì sao cho lưu danh sử-sách đến nghìn muôn đời như thế được?

Nay các ngươi vốn dòng vũ-tướng, không hiểu văn-nghĩa, nghe những chuyện cổ-tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên 王 公 堅 là người thế nào? Tỳ-tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập 阮 文 立 lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-ngư[1] nhỏ mọn, chống với quân Mông-kha[2] kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Đường ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ-tướng của Đường ngột Ngại là Xích tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam-chướng xa xôi, đánh được quân Nam-chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân-trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu-nhương, gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầm-rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều-đình, đem thân dê chó mà bắt-nạt tổ-phụ, lại cậy thế Hốt tất Liệt 忽 必 烈 mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân-nam-vương[3] để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai-vạ về sau!

Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm-tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư-xử so với Vương công Kiên, Đường ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.

Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-gìn như kẻ húp canh, dạy-bảo quân-sĩ, luyện-tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công-danh. Chẳng những là thái-ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng-lộc; chẳng những là gia-quyến của ta được yên-ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụng-thờ tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những là một mình ta được sung-sướng, mà các ngươi cũng được lưu-truyền sử sách, nghìn đời thơm-tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui-vẻ, cũng tự khắc được vui-vẻ.

Nay ta soạn hết các binh-pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển gọi là « Binh-thư yếu-lược ». Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời dạy-bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy-bảo, thì tức là kẻ nghịch-thù.

Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân-sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình-lỗ[4] mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt-mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.

Chú thích cuối trang

1. ▲ Điếu-ngư là tên núi, thuộc phủ Trùng-khánh tỉnh Tứ xuyên.
2. ▲ Mông-kha (Mungke) là vua Mông-cổ, anh Hốt tất Liệt.
3. ▲ Khi quân Mông-cổ lấy được đất Vân nam rồi, Hốt tất Liệt phong cho con là Hốt kha Kích là Vân-nam-vương.
4. ▲ Bình-lỗ là tên thành, nhưng sử cũ không chép rõ ở đâu và ai xây lên. Sách « Khâm-định Việt-sử » chép rằng theo bộ « Địa-dư-chí » của ông Nguyễn Trãi, thì đời nhà Lý có đào con sông Bình-lỗ để đi lên Thái-nguyên cho tiện. Vậy thành Bình-lỗ có lẽ ở vào hạt Thái-nguyên. Xem lời dặn của Trần Hưng-đạo-vương thì thành Bình-lỗ này xây vào đời Đinh hay đời Tiền-Lê, rồi Lý thường Kiệt đời Lý đã đánh quân Tống ở đó.

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

CIA tiết lộ tài liệu tối mật liên quan tới sự kiện Vịnh Bắc Bộ

Cục An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (National Security Agency, viết tắt NSA) vừa cho công bố gần 100 trang tài liệu nguyên là tối mật liên quan tới sự kiện Vịnh Bắc Bộ tháng 8/1964.

Washington thêm một lần phải “muối mặt” công nhận rằng, lý do để Mỹ đưa quân xâm lược Việt Nam thuở đó là ngụy tạo, do sai lầm của các lực lượng An ninh tình báo Mỹ.

Ảnh tư liệu về chiến tranh Việt Nam

Ảnh tư liệu về chiến tranh Việt Nam

Nghe gà hóa cuốc

Theo tờ “New York Times” số ra ngày 2/12, khi ấy, tình báo Mỹ đã cung cấp cho Nhà Trắng thông tin về việc hai tầu chiến Mỹ đang ở trong khu vực Vịnh Bắc Bộ đã bị tấn công hai lần, vào ngày 2 và 4/8/1964. Nhà Trắng đã lợi dụng thông tin này để Tổng thống Mỹ lúc đó là Lyndon Johnson tuyên chiến với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, triển khai không quân ném bom ồ ạt miền Bắc Việt Nam. Và ngay sau đó, Quốc hội Mỹ chấp thuận việc tiến hành chiến sự quy mô lớn ở Việt Nam… Tới năm 1968 đã có tới hơn 550 quân nhân Mỹ được đưa sang chiến trường Việt Nam. Những con số thống kê có thể còn chưa đầy đủ cho biết, cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm 58 nghìn lính Mỹ và hơn 3 triệu người Việt Nam thiệt mạng…

Tuy nhiên, ngay từ năm 2001, trong một bài viết lưu hành nội bộ NSA, một nhà nghiên cứu lịch sử tên là Robert J. Hanyok đã khẳng định rằng, tình báo Mỹ đã không dịch đúng những cuộc trò chuyện thu trộm được giữa những người Cộng sản Việt Nam và cố tình cung cấp cho Nhà Trắng những thông tin sai lệch trên cơ sở những sự kiện không được kiểm chứng kỹ càng. Sự thật là không hề có vụ tấn công tầu chiến Mỹ hôm 4/8/964…

Bài báo trên vừa được bóc dấu “tối mật” đã khiến dư luận Mỹ sửng sốt. Chiến tranh Việt Nam không phải là cuộc chiến tranh đầu tiên và cũng không phải là cuối cùng được bắt đầu trên cơ sở những lý do ngụy tạo. Trong danh sách những cuộc chiến tranh tương tự còn có cuộc tấn công của Mỹ vào quốc đảo Grenada, chiến tranh giữa Anh và Argentina ở đảo Folkland… Cuộc chiến Iraq hiện nay cũng từng được phát động trên cơ sở lời buộc tội “khẩu thiệt vô bằng” về việc Iraq dưới thời ông Saddam Hussein sở hữu vũ khí giết người hàng loạt. Cho tới nay, bất chấp mọi nỗ lực thanh sát, vẫn không hề có bất cứ một vật chứng nào củng cố lời buộc tội trên…

Nhanh nhẩu lắm khi là đoảng vị! Đấy là chưa kể tới nhiều trường hợp, khi mà các cơ quan an ninh tình báo đã lợi dụng nghiệp vụ để làm tổn hại quyền lợi quốc gia chung. Từ năm 1949 tới năm 1974, Quốc hội Mỹ từng phải bốn lần tiến hành nghe điều trần vì những vụ tai tiếng quốc tế do CIA gây nên.

Theo tác giả của tập sách “Ai theo dõi các điệp viên?”, cho tới giữa những năm 70 của thế kỷ trước, rất nhiều cơ quan tình báo phương Tây đã là “quốc gia trong lòng quốc gia” với những đặc quyền giúp cho ngay cả nguyên thủ quốc gia cũng không thể kiểm soát được. Điều này thực sự nguy hại tới xã hội.

Vẫn cần luật chơi riêng

Trong thế giới tư bản, về mặt nguyên tắc, hoạt động của các cơ quan an ninh tình báo thường đi trái với những quy chế phổ cập về quyền con người và dân chủ. Thí dụ, các cơ quan an ninh đã vi phạm luật đời tư bất khả xâm phạm khi buộc phải dùng camera theo dõi mọi người. Chính vì thế nên nhiều nước phương Tây đã cố gắng xây dựng những bộ luật có chất lượng cao để kiểm soát hoạt động của các cơ quan an ninh trong những khuôn khổ nhất định. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ khác, luôn tồn tại nguy cơ các viên chức có quyền kiểm tra giám sát các cơ quan an ninh lại lợi dụng các đạo luật đó để tư lợi về chính trị hoặc kinh tế.

Nhưng tình hình đã thay đổi một cách cơ bản kể từ ngày 11/9/2001, khi xuất hiện “chủ nghĩa khủng bố mới”. Khi đó, tất cả đều phải hiểu ra rằng, ranh giới mong manh giữa chiến tranh và hòa bình trên quy mô toàn cầu dường như đã bị xóa nhòa và không chỉ những quốc gia hay những tổ chức chính thống mới có thể gây nên chiến sự, mà ngay cả những tổ chức, nhóm, lực lượng nhỏ lẻ cũng có thể gây nên những chấn động quy mô lớn.

Nhu cầu chống khủng bố đã làm nảy sinh những vụ bắt bớ chỉ trên cơ sở hoài nghi từ phía các cơ quan an ninh tình báo về một đối tượng nào đó. Một số định chế nhà nước đã và đang tỏ ra không kịp thích ứng với những nguy cơ và mối đe dọa mới, và vì thế, rất dễ làm nảy sinh ra những vụ việc mới. Một số nhà nghiên cứu chuyên ngành cho rằng, nếu các định chế nhà nước có được khả năng phản ứng nhạy bén như các cơ quan an ninh tình báo thì chắc hẳn đã tránh được nhiều thảm họa.

Nhà nghiên cứu nổi tiếng người Mỹ Loch Johnson đã xác định được rằng, năm 1995, Trung tâm chống khủng bố của CIA đã cảnh báo về việc chẳng bao lâu nữa Hoa Kỳ có thể trở thành mục tiêu tấn công khủng bố đường không vì các mạng lưới khủng bố đã lập kế hoạch cướp một số phi cơ và lái chúng nhằm vào các tòa nhà cao tầng. Trong giai đoạn từ năm 1995 tới 2001, CIA đã 12 lần gửi tới ban lãnh đạo chính trị cao cấp nhất Hoa Kỳ những cảnh báo tương tự, nhưng không hề nhận được một phản ứng thích đáng nào. Và như vậy, thảm họa 11/9/2001 không chỉ minh chứng cho sự bất lực của các cơ quan an ninh tình báo, mà còn chứng tỏ sự “chậm chạp hư” của bộ máy điều hành chính sự ở Mỹ.

Vấn đề hiện nay ở chỗ, luật chơi riêng dành cho các cơ quan An ninh tình báo cần được xác định rành mạch sao cho không làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội, toàn quốc gia.

(Theo Công an nhân dân)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

THẠCH LAN (LITHOPS)

Thạch Lan (Lithops) là một chi thực vật mọng nước trong gia đình Aizoaceae. Các thành viên của chi này có nguồn gốc từ Nam Phi giống như những viên đá khi không nở.

Tên có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại từ “lithos” có nghĩa là “đá”, và ops” có nghĩa là “khuôn mặt”, đề cập đến sự xuất hiện giống như đá loài này. Đây cũng là một cách ngụy trang của lithops tránh bị ăn thịt bằng cách ẩn mình giữa những hòn đá xung quanh nên thường được gọi là sỏi hoặc đá sống.

Cá nhân cây lithops bao gồm một hoặc nhiều cặp hình củ, gần như hợp
nhất lại đối diện với nhau và hầu như không có gốc. Khe giữa các lá cây có chứa mô phân sinh sản xuất hoa và lá mới. Các lá dày để lưu trữ đủ nước cho cây tồn tại trong nhiều tháng không có mưa.

Trong suốt mùa đông, một cặp lá mới, hoặc đôi khi nhiều hơn một, phát triển bên trong cặp lá hợp nhất hiện có. Trong mùa xuân, các cặp lá cũ sẽ khô héo và bong đi để lộ cặp lá mới. các lá Lithops có thể co lại và biến mất dưới mặt đất.

Hoa màu vàng hoặc màu trắng nổi lên từ các khe nứt giữa các lá sau khi cặp lá mới đã hoàn toàn trưởng thành. Điều này thường là vào mùa thu, nhưng có thể là trước khi mùa hè như L. pseudotruncatella và sau mùa đông xuân như L. Optica. Những bông hoa thường có mùi thơm ngọt ngào.

Điều đáng ngạc nhiên nhất của Lithops là màu của lá. Không có màu xanh lục như hầu hết các thực vật bậc cao khác, mà là những sắc thái khác nhau của kem, xám, nâu, được điểm tô thêm những điểm chấm hay những viền đỏ, đặc biệt nhất là những hình dáng như bộ não rất ấn tượng.

Hạt giống dễ nảy mầm, khi cây con nhỏ, dễ bị tổn thương trong năm đầu tiên hoặc năm thứ hai, và sẽ không trổ hoa cho đến khi ít nhất hai hoặc ba tuổi.

This slideshow requires JavaScript.

 

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU HÌNH ẢNH | Tags: | Để lại bình luận
 
 

THƯ TỊCH CỔ KHẲNG ĐỊNH VIỆT NAM CAI QUẢN HOÀNG SA

Hàng loạt tài liệu, thư tịch, sắc phong, châu bản… từ thế kỷ 18 đến thời vua Bảo Đại, được công bố trong cuốn Kỷ yếu Hoàng Sa, đều chứng minh sự cai quản liên tục về mặt nhà nước của Việt Nam ở quần đảo này.

Chỉ thị của Thái phó Tổng lý quản binh dân chư vụ thượng tướng công nhà Tây Sơn ngày 14/2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) với nội dung sai Cai đội Hoàng Sa cưỡi 4 chiếc thuyền câu vượt biển thẳng đến Hoàng Sa cùng các sứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba chở về kinh, tập trung nộp theo lệ.

Văn bản phát hiện ở làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế với nội dung xử lý vụ kiện giữa phường Mỹ Toàn (nay là làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ) và phường An Bằng (xã Vinh An) về việc tranh chấp một chiếc vỏ thuyền của đội Hoàng Sa dạt vào bờ biển giáp ranh giữa hai phường này. Văn bản cho thấy, năm 1760, dưới thời vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786) đã có cai đội Hoàng Sa chuyên trách quản lý và khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa. Bản gốc bằng chữ Hán được viết trên dấy dó.

Tờ lệnh của họ Đặng ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) gồm bốn trang, dài 36cm, rộng 24cm và còn nguyên vẹn, ghi rõ ngày 15/4 năm Minh Mạng thứ 15 (1834), quan tỉnh Quảng Ngãi phái đội thuyền ba chiếc ra canh giữ đảo Hoàng Sa. Theo giới nghiên cứu, tuy chỉ vỏn vẹn vài trang nhưng tờ lệnh này chứa đựng nhiều thông tin quý, nêu rõ danh tính, quê quán của từng binh thuyền vâng lệnh triều đình đi lính Hoàng Sa, không chỉ riêng huyện đảo Lý Sơn mà còn ở các vùng quê ven biển khác tại Quảng Ngãi.

Mộc bản triều Nguyễn trong sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 165 năm Minh Mạng thứ 17 (1836) ghi lại Bộ công tâu lên triều đình nội dung: “Cương giới mặt biển ta có xứ Hoàng Sa rất hiểm yếu”.

Một trong hai bản tấu của Thủ ngự Đà Nẵng ngày 27/6 năm Minh Mạng thứ 11 (1830) gửi đến triều đình với nội dung vừa cứu hộ thành công thuyền buôn của Pháp đụng phải đá ngầm tại phía tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng).

Một trong hai bản tấu của Thủ ngự Đà Nẵng ngày 27/6 năm Minh Mạng thứ 11 (1830) gửi đến triều đình với nội dung vừa cứu hộ thành công thuyền buôn của Pháp đụng phải đá ngầm tại phía tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng).

Tấu của Bộ Công ngày 13/7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837) có nội dung: Lần đi Hoàng Sa này trở về, trừ bọn Kinh phái Thủy sư Suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phải hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, đà công Lưu Đức Trực...

Tấu của Bộ Công ngày 13/7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837) có nội dung: Lần đi Hoàng Sa này trở về, trừ bọn Kinh phái Thủy sư Suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phải hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, đà công Lưu Đức Trực…

Tấu của Bộ Công ngày 21/6 năm Minh Mạng thứ 19 (1838) về việc thám sát và vẽ bản đồ ở Hoàng Sa. Bản tấu viết rằng những người được phái đi Hoàng Sa do Bộ ty Đỗ Mậu Thưởng và Thị vệ Lê Trọng Ba dẫn đầu và hướng dẫn viên Vũ Văn Hùng. Ông Hùng cho biết Hoàng Sa có tất cả 4 nơi cần khảo sát thì lần này đi được 3 nơi.

Tấu của Bộ Công ngày 21/6 năm Minh Mạng thứ 19 (1838) về việc thám sát và vẽ bản đồ ở Hoàng Sa. Bản tấu viết rằng những người được phái đi Hoàng Sa do Bộ ty Đỗ Mậu Thưởng và Thị vệ Lê Trọng Ba dẫn đầu và hướng dẫn viên Vũ Văn Hùng. Ông Hùng cho biết Hoàng Sa có tất cả 4 nơi cần khảo sát thì lần này đi được 3 nơi.

Chỉ dụ số 10, ngày 29/2/1938 của vua Bảo Đại sáp nhập quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Quảng Ngãi vào tỉnh Thừa Thiên về phương diện hành chính.

Chỉ dụ số 10, ngày 29/2/1938 của vua Bảo Đại sáp nhập quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Quảng Ngãi vào tỉnh Thừa Thiên về phương diện hành chính.

Tờ châu bản có chữ phê chuẩn bằng mực đỏ của vua Bảo Đại ngày 27/12, năm Bảo Đại thứ 13, tức ngày 03/2/1939 khẳng định sự tiếp tục quản lý hành chính cũng như việc đưa binh lính ra Hoàng Sa.

Tờ châu bản có chữ phê chuẩn bằng mực đỏ của vua Bảo Đại ngày 27/12, năm Bảo Đại thứ 13, tức ngày 03/2/1939 khẳng định sự tiếp tục quản lý hành chính cũng như việc đưa binh lính ra Hoàng Sa.

Nguyễn Đông (vnexpress)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU HÌNH ẢNH | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TỔNG HỢP HÌNH ẢNH CÁC LOẠI SÚNG BỘ BINH

Tổng hợp hình ảnh các loại súng bộ binh một số nước trên thế giới

 

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU HÌNH ẢNH | Tags: | Để lại bình luận
 
 

THƠ VỀ HOÀNG SA – TRƯỜNG SA

Gần lắm Trường Sa

Sáng tác: Huỳnh Phước Long

 

Mỗi cánh thư về từ đảo xa. Anh thường nói rằng trường sa xa lắm em ơi.

Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ, bên đồng đội thân yêu.

Chỉ có loài chim biển, Sóng vỗ điệp trùng quanh biển trúc san hô..

Trường sa ơi.. biển đảo quê hương, vẫn đứng hiên ngang giữa sống cồn bão

giặc. Đảo quê hương! Canh giữ đêm ngày giữ biển khơi…Thương nhớ sao vời người

chiến sĩ Trường sa ơi. Không xa đâu trường sa ơi..Không xa đâu..

trường sa ơi…..Vẫn gần bên Em vì trường sa luôn bên Anh..Vẫn gần bên Anh vì trường sa luôn bên Em….

Mong cánh thư về từ đảo xa..Nơi thành phố này trường sa vẫn bên em…Anh ơi có nghe lời người từ phố biển…

khi ngọn triều dâng cao.., Khi cánh hải âu về. Sóng vỗ điệp trùng quanh đảo trúc san hô. Trường sa ơi.. biển đảo quê hương, vẫn thấy

anh đang giữa sóng cồn giữ đảo, đảo quê hương..Canh giữ đêm ngày giữa biển khơi…Thương nhớ sao vời người chiến sĩ Trường sa ơi. Không xa đâu trường sa ơi..Không xa đâu trường sa ơi…..Vẫn gần bên Em vì Trường sa luôn bên Anh..Vẫn gần bên Anh vì trường sa luôn bên Em….

 

Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn -Trần Đăng Khoa.

Chúng tôi ngồi trên đảo Sinh Tồn

Bóng đen sẫm như gốc cây khô cháy

Mắt đăm đăm nhìn về nơi ấy

Nơi cơn mưa thăm thẳm xa khơi ánh chớp xanh lấp loáng phía chân trời…

Ôi ước gì được thấy mưa rơi

Mặt chúng tôi ngửa lên như đất

Những màu mây sẽ thôi không héo quắt

Đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên

Đảo xa khơi sẽ hoá đất liền.

Chúng tôi không cạo đầu để tóc lên như cỏ

Rồi khao nhau

Bữa tiệc linh đình bày toàn nước ngọt

Ôi ước gì được thấy mưa rơi …

Cơn mưa lớn vẫn rập rình ngoài biển ánh chớp xanh vẫn lấp loáng phía chân trời..

Ôi, ước gì được thấy mưa rơi

Chúng tôi sẽ trụi trần nhảy choi choi trên cát

Giãy giụa tơi bời trên cát

Như con cá rô rạch nước đón mưa rào úp miệng vào tay, chúng tôi sẽ cùng gào.

Như ếch nhái uôm uôm khắp đảo

Mưa đi ! Mưa đi ! Mưa cho táo bạo

Mưa như chưa bao giờ mưa, sấm sét đùng đùng

Nhưng làm sao mưa cứ ngại ngùng

Chập chờn bay phía xa khơi…

Chúng tôi ngồi ôm súng đợi mưa rơi

Lòng thắc thỏm niềm vui không nói hết

Mưa đi ! Mưa đi ! Mưa cho mãnh liệt

Mưa lèm nhèm chúng tôi chẳng thích đâu

Nhưng không có mưa rào thì cứ mưa ngâu

Hay mưa bụi … mưa li ti… cũng được…

 

Tổ Quốc nhìn từ biển

 

Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

DỰ ÁN CHẾ TẠO “QUÁI BAY” CỦA ĐỨC QUỐC XÃ

Trong những năm 1944–1945, với mong muốn có thể chế tạo được một loại máy bay chiến đấu có khả năng cơ động nhanh như các loại phản lực cơ, đồng thời có thể cất, hạ cánh được tại các khu vực có bãi đỗ hạn chế, quân đội Phát xít Đức đã nghiên cứu và có ý định chế tạo loại “quái” phi cơ Focke-Wulf Triebflügel để trang bị cho cỗ máy chiến tranh của mình trong Chiến tranh thế giới lần thứ II.

Chiến đấu cơ có hình dáng kỳ lạ Focke-Wulf Triebflügel – dự án bất thành của quân đội Phát xít Đức.

Thực ra, nguồn gốc đầu tiên của loại chiến đấu cơ Focke-Wulf Triebflügel được hình thành từ ý tưởng đã được cấp bằng ý tưởng sáng chế của kỹ sư hãng Siemens của Đức có tên Otto Muck vào năm 1983 về một loại phương tiện bay cất cánh thẳng đứng (VTO – Vertical Take-Off)

Năm1944, Kurt Tank – Giáo sư chuyên nghiên cứu chuyên ngành khí động học người Đức đã quyết định biến ý tưởng của kỹ sư Otto Muck thành hiện thực thông qua bản thiết kế kỹ thuật về chiếc máy bay VTO Focke-Wulf Triebflügel do Heinz von Halem phác thảo.

Tháng 9 cùng năm đó một dự án chế tạo máy bay cất cánh thẳng đứng Focke-Wulf Triebflügel đã được đệ trình lên giới lãnh đạo của Focke-Wulf Flugzeugbau – tập đoàn chuyên sản xuất máy bay quân sự và dân dụng của Đức Quốc Xã trong những năm Thế chiến thứ II.

Mặc dù dự án chế loại máy bay này đã bị huỷ bỏ sau đó không lâu bởi một số lý do liên quan đến tính hiệu quả, đặc biệt là sự sụp đổ của đế chế độc tài Hitler nhưng dự án chế tạo chiến đấu cơ Focke Wulf Triebflügel vẫn là một trong những nghiên cứu đầu tiên và đáng quan tâm nhất thế giới về loại máy bay chiến đấu ứng dụng công nghệ cánh quay phản lực.

Chiến đấu cơ Focke Wulf Triebflügel được thiết kế theo mô hình cột thẳng đứng kể cả khi cất và hạ cánh. Loại máy bay này hoạt động được nhờ hệ thống động cơ 3 cánh quạt kiểu rotor quay được bố trí ở 2/3 thân tính từ mũi máy bay.

Trên mỗi cánh của rotor thân của Focke Wulf Triebflügel các kỹ sư bố trí lắp đặt mỗi cánh 1 động cơ phản lực thẳng dòng (ramjet).

Mỗi động cơ phản lực thẳng dòng này có đường kính 0,68 mét với khả năng cung cấp mỗi chiếc 840 kg lực đẩy.

Loại động cơ đặc biệt này trước đó đã được chuyên gia khí động học Otto Pabst nghiên cứu thành công sau các cuộc thí nghiệm kiểm chứng tại Cục khí động học của tập đoàn Focke-Wulf Flugzeugbau.

Về cơ bản, loại động cơ phản lực thẳng dòng của chiến đấu cơ Focke Wulf Triebflügel được nghiên cứu và phát triển dựa trên công nghệ đốt nhiên liệu và nén không khí đặc biệt đã từng được sử dụng để chế tạo các loại máy bay tiêm kích trong quân đội Đức.

Sở dĩ Focke Wulf Triebflügel được thiết kế theo kiểu đứng thẳng trên mặt đất nhằm tăng tính cơ động sẵn sàng cất cánh trong các tình huống khẩn cấp, đồng thời giảm chi phí xây dựng các sân bay quân sự tại các chiến trường mới.

Để đáp ứng yêu cầu này, các kỹ sư đã lắp đặt hệ thống đứng gồm 4 “vi” phụ và một “vi” chính nằm giữa thân máy bay. Đây cũng chính là các chi tiết nằm trong cơ cấu điều khiển hướng bay giống như cấu tạo của một số loại tên lửa có cánh.

Trên các “vi” phụ và “vi” chính này được bố trí các bánh xe được chế tạo bằng cao su đặc biệt, các bánh xe này có tác dụng giúp Focke Wulf Triebflügel dễ cơ động trên mặt đất.

Tuy nhiên, khi chiến đấu cơ này bay khỏi mặt đất, hệ thống bánh sẽ được che phủ bởi các thiết bị thép có hình hoa tuy líp để tránh sức cản của không khí khi cơ động giúp Focke Wulf Triebflügel có thể bay nhanh hơn.

Buồng điều khiển của phi công trên chiếc Focke Wulf Triebflügel cũng được thiết kế theo kiểu mũ chụp giống như nhiều loại chiến đấu cơ thông thường khác thời kỳ đó.

Hệ thống vũ khí của Focke Wulf Triebflügel được bố trí trên phần đầu của cỗ máy chiến tranh này để tạo điều kiện cho phi công khai thác tối đa các góc bắn từ cabin điều khiển.

Mỗi chiếc Focke Wulf Triebflügel được trang bị 2 súng máy cỡ nòng 30 mm MK 103 (200 viên mỗi lần xuất kích); 2 súng máy 20 mm NG 151 (250 viên).

Mặc dù chương trình chế tạo máy bay chiến đấu Focke Wulf Triebflügel của người Đức đã bị huỷ bỏ, sau khi Chiến tranh thế giới lần II kết thúc một số nước trong phe Đồng Minh, điển hình là Mỹ đã nối lại các nghiên cứu của người Đức và đã chế tạo được 2 loại máy bay dựa trên nguyên lý cất cánh thẳng đứng đã từng được nghiên cứu và chế tạo vào những năm 1944-1945.

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

NHÀ NGUYỄN VỚI HOÀNG SA – TRƯỜNG SA

1.Nhà Nguyễn với Hoàng Sa – Trường Sa

Sách “Đại Nam thực lục tiền biên”, quyển 10, trang 24 (chữ Hán) đời Thế tông Hiếu Vũ Hoàng đế (tức chúa Nguyễn Phúc Khoát) năm thứ 16 (1754) chép: “Mùa thu, tháng 7, dân đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền ra đảo Hoàng Sa, gặp gió dạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh. Tổng đốc Thanh hậu cấp cho rồi cho đưa về. Chúa sai viết thư cám ơn. Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, có hơn 130 bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn dặm, tục gọi là “Vạn lý Hoàng Sa”. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích, ba ba…

Buổi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm, đến tháng 3 thì đi thuyền ra Hoàng Sa, độ ba đêm ngày thì đến bãi, tìm lượm hoá vật, đến tháng 8 thì về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ người ở thôn Tứ Chánh thuộc Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, sai đi thuyền nhỏ đến các xứ Bắc Hải, Côn Lôn (tức Côn Đảo ngày nay), để tìm lượm hoá vật; đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.

Về mặt tổ chức, phiên chế đội ngũ, đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự, vừa mang tính tư nhân vừa mang tính nhà nước, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý thời ấy ở Biển Đông, ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn trong hoàn cảnh tay cầm cuốc, tay cầm gươm để mở đất khai hoang. Kể từ khi được thành lập vào thời chúa Nguyễn cho đến khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước thì hải đội Hoàng Sa vẫn hoạt động nhằm bảo vệ vùng biển đảo, đặc biệt là Hoàng Sa và Trường Sa.

Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo những tài liệu như Dư địa chí, Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí… hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về. Và khi về đội Hoàng Sa phải báo cáo với triều đình về những việc làm trong thời gian trên biển.

2.Triều Nguyễn đã cho người vẽ bản đồ Hoàng Sa.

Một trong những việc mà vương triều Nguyễn rất chú trọng là việc vẽ bản đồ Hoàng Sa. Không những đội Hoàng Sa có nhiệm vụ này mà ngay cả thuyền buôn của các nước nếu vẽ được bản đồ Hoàng Sa cũng được triều đình trọng thưởng.

Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ”, quyển 55, năm Gia Long thứ 16 (1817) chép: “Tháng 6, thuyền Mã Cao đậu Đà Nẵng, đem địa đồ đảo Hoàng Sa dâng lên. Thưởng cho 20 lạng bạc”.

Trong những lần ra Hoàng Sa, hải đội Hoàng Sa ngoài việc vẽ bản đồ, thăm dò đường biển… còn có nhiệm vụ khai thác những sản vật tại Hoàng Sa về đem dâng lên triều đình và báo cáo tình hình tại Hoàng Sa.

Mộc bản triều Nguyễn sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 122, trang 23, năm Minh Mạng thứ 15 (1814) chép: “Tháng 3, sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thuỷ quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về, vua hỏi về những thứ sản vật ở đấy, Sĩ tâu: Nơi này là bãi cát giữa bể, man mác không bờ, có nhiều thuyền các nước qua lại. Nhân đem dâng vua những thứ chim, cá, ba ba, ốc, sò ngao, đã bắt được ở nơi đó, đều là những vật lạ, ít thấy”. Vua cho trọng thưởng.

Từ việc đội Hoàng Sa phải trình tâu và dâng những sản vật lên triều đình sau những lần công cán trở về cho thấy rằng vương triều Nguyễn có chủ quyền rõ ràng với quần đảo này. Việc phòng thủ cũng như khai thác sản vật ở Hoàng Sa cũng đã chứng minh đó không phải là việc riêng của bộ phận nào, mà đó là việc chung của cả vương triều.

3.Từ thời xa xưa Hoàng Sa và Trường Sa đã là của người Việt.

Biển Đông là vùng biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau Địa Trung Hải), chiếm khoảng 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên các vùng biển toàn cầu. Là tuyến hàng hải huyết mạch mang tính chiến lược của nhiều nước trên thế giới và khu vực, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Âu, Trung Đông với châu Á và giữa các nước châu Á với nhau. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, là ngư trường giàu có nuôi sống hàng triệu ngư dân và gia đình từ bao đời qua, là một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động, là nơi hấp dẫn của các nhà đầu tư và thị trường thế giới.

Bên cạnh nhiều đảo lớn nhỏ khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc về lãnh thổ Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo, đá, cồn san hô và bãi cạn, nằm ở khu vực biển giữa vĩ độ 15045’00”Bắc – 17015’00”Bắc và kinh độ 111000’00”Đông – 113000’00”Đông trên vùng biển có diện tích khoảng 30.000km2, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi – Việt Nam) khoảng 120 hải lý. Đoạn biển từ Quảng Trị chạy tới Quảng Ngãi đối mặt với quần đảo Hoàng Sa luôn hứng gió mùa Tây Nam hay Đông Bắc nên thường có nhiều thuyền bị hư hại khi ngang qua đây vào mùa này. Các vua chúa Việt Nam thời xưa hay chu cấp cho các tàu thuyền bị nạn về nước, nên họ thường bảo nhau tìm cách tạt vào bờ biển Việt Nam để nhờ cứu giúp khi gặp nạn.

Chính vì thế, Hoàng Sa từ rất sớm đã được người Việt biết tới và xác lập chủ quyền của mình. Quần đảo Hoàng Sa chia làm hai nhóm An Vĩnh và Trăng Khuyết (hay còn gọi là Lưỡi Liềm). An Vĩnh nguyên là tên một xã thuộc Quảng Ngãi, theo Đại Nam Thực lục Tiền biên quyển 10: “Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 100 cồn cát… chiều dài kéo dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa châu. Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi…”.

Quần đảo Trường Sa nằm giữa Biển Đông về phía Đông Nam nước ta, phía Nam quần đảo Hoàng Sa, cách Cam Ranh (Khánh Hoà – Việt Nam) 243 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 585 hải lý và đến đảo Đài Loan khoảng 810 hải lý. Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 đảo lớn nhỏ và bãi san hô với diện tích vùng biển rộng khoảng 410.000 km2, từ vĩ độ 6000’00” Bắc – 12000’00” Bắc và kinh độ 111000’00” Đông – 117000’00” Đông. Diện tích phần nổi của đảo khoảng 3km2, chia làm 8 cụm (Song Tử, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên). Với vị trí giữa Biền Đông, quần đảo Trường Sa có lợi thế về dịch vụ hàng hải, hậu cần nghề cá trong khu vực, đồng thời cũng là một địa chỉ du lịch hấp dẫn.

Điều kiện thiên nhiên trên thực tế đã gắn liền với những hoạt động xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo các nhà nghiên cứu, nếu mực nước biển hạ xuống chừng 600m-700m thì Hoàng Sa sẽ dính vào Việt Nam như một khối thịt liền và cách Trung Quốc bằng một vùng biển sâu (Krempf, Giám đốc Hải học Viện Đông Dương, khảo sát năm 1925).

Các sinh vật trên các đảo và dưới biển thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như rùa, đời mồi, vít, đồn đột, ốc tai voi, ốc hương đều tương tự như các đảo ven biển Việt Nam như cù lao Ré. Các khảo sát từ thập niên 40 của thế kỷ 20 cũng cho thấy các thú vật sống trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là các loài đã gặp ở Việt Nam, không có nhiều liên hệ với sinh vật ở Trung Quốc.

Các khảo sát về thảo mộc cũng có kết quả tương tự, hầu hết thảo mộc ở hai quần đảo này đều du nhập từ đất liền của Việt Nam như cây mù u, cây bàng có nhiều ở cù lao Ré. Các sách sử của thời Nguyễn cũng chép rõ, theo lệnh vua Minh Mạng binh lính Việt Nam đã trồng nhiều cây cối trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, để ngày sau cây cối cao to giúp người đi biển nhận biết mà tránh mắc cạn.

Biển Đông cũng như Việt Nam nằm trong khu vực mà các nhà sinh vật học gọi là Wallacca, là vùng đất sinh sống của các loài động vật Á Đông mà Trung Hoa nằm ngoài vùng này. Tại Biển Đông không giống như Thái Bình Dương, có dòng hải lưu chảy thay đổi theo chiều gió mùa. Thiên nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ giữa đất liền của Việt Nam với các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa. Chính nhu cầu tránh bão hoặc bị nạn rồi theo dòng hải lưu, theo chiều gió tấp vào đất liền Việt Nam của các thương thuyền nước ngoài như đã trình bày ở trên nên người Việt Nam từ lâu đã biết tới Hoàng Sa và Trường Sa và sẵn lòng cứu giúp những người bị nạn. Điều đó chứng tỏ hoạt động xác lập chủ quyền và thực thi chủ quyền trên thực tế của người Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức tự nhiên từ bao đời qua.

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc. Biên giới luôn gắn liền với lãnh thổ (bao gồm cả đất liền, biển, đảo và vùng trời) nên các yếu tố lịch sử, luật pháp và tập quán quốc tế là những cơ sở hết sức quan trọng trong việc khẳng định tính bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc chủ quyền của Việt Nam và nằm trong biên giới của lãnh thổ Việt Nam.

4.Lập hải đội Hoàng Sa

Sách “Đại Nam thực lục tiền biên”, quyển 10, trang 24 (chữ Hán) đời Thế tông Hiếu Vũ Hoàng đế (tức chúa Nguyễn Phúc Khoát) năm thứ 16 (1754) chép: “Mùa thu, tháng 7, dân đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền ra đảo Hoàng Sa, gặp gió dạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh. Tổng đốc Thanh hậu cấp cho rồi cho đưa về. Chúa sai viết thư cám ơn. Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, có hơn 130 bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn dặm, tục gọi là “Vạn lý Hoàng Sa”. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích, ba ba…

Từ năm 1814 vua Triều Nguyễn đã lập hải đội Hoàng sa. Từ việc đội Hoàng Sa phải trình tâu và dâng những sản vật lên triều đình sau những lần công cán trở về cho thấy rằng vương triều Nguyễn có chủ quyền rõ ràng với quần đảo này. Việc phòng thủ cũng như khai thác sản vật ở Hoàng Sa cũng đã chứng minh đó không phải là việc riêng của bộ phận nào, mà đó là việc chung của cả vương triều

5.Hoàng Sa, Trường Sa – sự nghiệp lẫy lừng nhất của Gia Long

Theo sách Đại Nam thực lục Chính biên thì vào năm 1803, nghĩa là chỉ mới mấy tháng sau khi thành lập Vương triều Nguyễn, vua Gia Long đã chính thức “sai mộ dân ngoại tịch lập đội Hoàng Sa” theo như truyền thống có từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên gần 2 thế kỷ trước. Đặc biệt liên tục trong các năm 1815, 1816, ông “sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển” và triển khai các hoạt động thực thi chủ quyền một cách kiên quyết và đồng bộ. Ông còn mở rộng quan hệ với các nước, nhận địa đồ đảo Hoàng Sa từ thuyền Mã Cao năm 1817, tuyên bố về hoạt động chủ quyền của Vương triều mình ở Hoàng Sa và Trường Sa mà không có bất cứ một quốc gia nào phản đối hay có ý định tranh giành với ông. Đây là một trong những trang đẹp nhất, rạng rỡ và ngời sáng nhất của lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ riêng Việt Nam, mà cả thế giới đều biết.

Về thăm đảo Lý Sơn – quê hương của đội Hoàng Sa, chúng tôi thấy nhà thờ Phạm Quang Ảnh có đôi câu đối mà theo chúng tôi chính là biểu tượng tuyệt vời của truyền thống anh hùng quả cảm Việt Nam ngoài biển đảo:

“Trung can huyền nhật nguyệt,

Nghĩa khí quán càn khôn”.

Điều rất đặc biệt là người dân địa phương cho đến nay vẫn còn giữ được rất nhiều tư liệu quý báu minh chứng cho một lịch sử vô cùng gian khó và hào hùng khai chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Trong các nguồn tài liệu phong phú và độc đáo này, có một số tư liệu vô giá của thời Gia Long như Tờ kê trình của Phú Nhuận hầu viết vào năm Gia Long thứ 2 (1803); Đơn của phường An Vĩnh ngày 11 tháng 2 năm Gia Long thứ ba (1804), Văn khế bán đoạn đất của xã An Vĩnh phục vụ cho hoạt động của đội Hoàng Sa lập vào năm Gia Long thứ 15 (1816)…

“Nhân tố biển đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của các thế lực bất cứ các chúa Nguyễn”

Hoạt động chủ quyền của vua Gia Long ở Hoàng Sa và Trường Sa đã được người phương Tây vô cùng khâm phục và đặc biệt đề cao. Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) từng viết hồi ký xác nhận: “Xứ Đàng Trong mà Quốc vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng đế bao gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc của Cao Miên, một vài đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có những đảo nhỏ, bãi đá ngầm và mỏm đá không người ở. Chỉ đến năm 1816 thì nhà vua hiện nay (vua Gia Long) mới chiếm hữu được quần đảo này”.

Giám mục Jean Louis Taberd cho rằng: Quần đảo Pracel “Vào năm 1816, nhà vua (vua Gia Long) đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc là sẽ không có một ai sẽ tìm cách tranh giành với ông ta”. Ông còn cho xuất bản cuốn Từ điển La Tinh An Nam và kèm theo tấm bản đồ An Nam đại quốc họa đồ, trong đó có vẽ một cụm các đảo nhỏ với dòng chữ ghi chú: Paracel Seu Cát Vàng, khẳng định chính thức và chính xác Paracel hay là Bãi Cát Vàng thuộc vào bản đồ nước Việt Nam.

Tiến sĩ Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên soạn cuốn sách Geography Of The Cochinchinese Empire cho biết: “Chính phủ An Nam nhận thấy lợi ích có thể đem lại được nếu như dựng lên một ngạch quan thuế và đã duy trì những thuyền đánh thuế và một đội quân nhỏ đồn trú ở tại chỗ để thu thuế đối với tất cả những ai đến đó, và để bảo vệ những dân chài của nước họ”.

Năm 1850, M.A.Dubois de Jancigny viết sách nói rõ: “Chúng tôi chỉ muốn nhận xét rằng đã từ 34 năm nay (tức là từ 1816 đến 1850), quần đảo Paracels (mà những người An Nam gọi là Cát Vàng), thật là một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát thật sự đã làm những người đi biển kinh hãi và chỉ có thể kể đến trong số những địa điểm hoang vu cằn cỗi nhất của địa cầu, quần đảo do đã bị các người xứ Đàng Trong chiếm giữ. Chúng tôi không rõ họ đã có đặt một cơ sở nào không (có thể với mục đích là bảo vệ công việc đánh cá), nhưng chắc chắn rằng nhà vua Gia Long đã chủ tâm đính thêm đoá hoa độc nhất vô nhị đó vào chiếc vương miện của ông, bởi vì ông đã xét thấy cần thiết phải đi tới việc đích thân chiếm giữ lấy quần đảo đó, và chính vì thế mà năm 1816 ông đã long trọng kéo lá cờ xứ Đàng Trong lên mảnh đất đó”.

6. Tờ lệnh của thời Vua Minh Mạng khẳng định chủ quyền.

Tờ lệnh Ngày 15 tháng 4 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) của quan Bố chánh, Án sát tỉnh Quảng Ngãi gồm có bốn trang, mỗi trang dài 36cm, rộng 24cm. Tuy chỉ vỏn vẹn có 04 trang nhưng Tờ lệnh chứa đựng nhiều thông tin quý, góp thêm một bằng chứng rằng đã từ lâu (từ trước năm 1834) Hoàng Sa đã thuộc phạm vi cai quản của Việt Nam. Tờ lệnh nêu rõ danh tính, quê quán của từng binh thuyền vâng mệnh triều đình đi lính Hoàng Sa không chỉ riêng ở huyện đảo Lý Sơn mà còn ở các vùng quê ven biển khác tại Quảng Ngãi, “Thủy thủ: Tên Đề Phạm Vị Thanh người phường An Hải; Tên Trâm Ao Văn Trâm, người Lệ Thủy Đông (hai tên); Tên Sơ Trân Văn Kham, người phường An Vĩnh; Tên Xuyên Nguyễn Văn Mạnh, người phường An Hải; Tên Lê Trần Văn Lê, người ấp Bản An; Tên Doanh Nguyễn Văn Doanh, người thôn Thạch Ốc An Thạch huyện Mộ Cách. Từ đội Kim Thương đưa sang 2 tên: Vũ Văn Nội; Trương Văn Tài”.

Tờ lệnh còn xác thực thêm những thông tin ghi chép trong các bộ chính sử của triều Nguyễn về ông Võ Văn Hùng, là người có công đi Hoàng Sa trong nhiều năm. Văn bản còn thể hiện về cách thức tổ chức của đội Hoàng Sa, thủy quân Hoàng Sa, phiên chế, cách tuyển chọn, thời gian xuất hành…

Tờ lệnh còn giúp khẳng định rằng mỗi năm vua Minh Mệnh đều có điều bao nhiêu thuyền và lính ra Hoàng Sa. Đó là việc rất quan trọng, được phối hợp hoạt động chặt chẽ từ trung ương đến địa phương trong việc lập bản đồ, cắm mốc chủ quyền, trồng cây và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Nó kéo dài suốt nhiều năm và rất nhiều hải đội người Việt đã nối tiếp nhau có mặt ở Hoàng Sa. Họ thường đi trên ghe bầu rộng khoảng 3m, dài 12m, chở được 8 – 12 người, mang theo lương thực đủ dùng trong sáu tháng và cả nẹp tre để bó thi thể khi hi sinh. Trước khi đi, địa phương đã làm lễ tế sống họ. Nhiều hải đội đã anh dũng ra đi không trở về mà chứng tích hiện vẫn còn lưu lại nhiều ở các địa phương ven biển đặc biệt là ở Lý Sơn.

Tờ lệnh này đã bổ sung vào kho tư liệu lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và kết nối logic với hệ thống tư liệu quý cùng nhiều di tích liên quan đến hải đội Hoàng Sa, quần thể mộ lính Hoàng Sa, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa… chứng tỏ từ nhiều thế kỷ trước tổ tiên người Việt Nam đã giong thuyền ra Biển Đông để cắm bia khẳng định chủ quyền và bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.

7. Biển Đông và những hành động quyết liệt thời Nhà Nguyễn

Nhà Nguyễn đã luôn kiên trì và sáng suốt trong chính sách tiến ra biển Đông, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị… đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức như vãn thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết. Những đóng góp quan trọng của triều Nguyễn thế kỷ 19 vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông là sự tiếp nối chính sách của vương triều Tây Sơn ngày ấy.

Nhà Nguyễn quan tâm đến hoạt động xuất nhập khẩu và kinh tế biển từ rất sớm. Các hoạt động vươn ra biển Đông của nhà Nguyễn thời ấy chính là nhằm khẳng định chủ quyền lãnh hải và khai thác biển đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được ghi chép tương đối đầy đủ, thống nhất trong các bộ sử ký của nhà Nguyễn, cũng như trong các tài liệu của người nước ngoài mà chúng ta thu thập được trong những năm đổi mới và mở cửa hội nhập…

Theo tư liệu lịch sử, Thích Đại Sán là một trong những vị cao tăng người Trung Hoa được chúa Nguyễn mời đến đất Thuận Hóa để truyền kinh Phật. Ông là người đã khai sáng chùa Thiền Lâm vào năm 1695, mở Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ (Huế), làm cố vấn chính trị cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Ông đến Thuận Hóa bằng đường biển, qua cảng thị Hội An. Khi trở về cố quốc, ông đã viết cuốn Hải ngoại ký sự. Cuốn sách được xem là một cẩm nang đối với giới nghiên cứu. Đọc Hải ngoại ký sự có thể thấy từ thế kỷ 15-17, nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình trên một vùng lãnh hải rộng lớn, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thông qua các biện pháp: thu thuế tàu thuyền buôn nước ngoài; thiết lập đội hải quân Hoàng Sa, hàng năm ra khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật, hàng hóa từ những chiếc tàu bị đắm trên vùng biển này.

Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726-1784) có 2 đoạn viết về Hoàng Sa: “Ở ngoài núi Cù Lao Ré (tức huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) có đảo Đại Trường Sa (tức quần đảo Hoàng Sa). Ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều Hải vật chở đi bán các nơi, nên nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày mới đến được đảo Đại Trường Sa … Ở trong các hòn đảo có bãi cát vàng, dài chừng hơn 30 dặm, bằng phẳng và rộng lớn, nước trong nhìn suốt đáy. Ở trên các hòn đảo có vô số tổ yến, còn các thứ chim thì kể có hàng ngàn, hàng vạn con… Trên bãi có rất nhiều vật lạ như ốc hoa, có thứ mang tên là ốc tai voi, lớn như chiếc chiếu… Lại có thứ ốc được gọi là ốc xà cừ, thứ ốc này để trang sức các đồ dùng… Có thứ đại mạo là con đồi mồi rất lớn. Có con hải ba (ba ba biển) cũng giống như con đồi mồi nhưng nhỏ hơn, mai mỏng, người ta dùng trang sức các đồ dùng…”.

Lê Quý Đôn cho biết, đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vinh (Quảng Ngãi) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển. Ra đi từ tháng giêng. Ra đảo tự bắt chim, cá làm thức ăn… Đến tháng 8 đội Hoàng Sa trở về cửa Eo (cửa Thuận An) rồi lên thành Phú Xuân trình nộp các sản vật đã khai thác được. Nghiệm thu hải vật xong đội Hoàng Sa được bán riêng những con ốc hoa, mai hải ba, hải sâm. Sau đó các thành viên của đội được trở về nhà. Ngoài đội Hoàng Sa, các chúa Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc hải. Đội Bắc hải không qui định bao nhiêu người. Đội này tàu thuyền nhỏ hơn, hoạt động ở vùng đảo Côn Lôn, ở xứ Cồn Tự thuộc vùng Hà Tiên. Họ chủ yếu khai thác hải sản, ít khi tìm được vàng bạc, đồ vật quý giá từ các tàu đắm như ở Hoàng Sa.

8. Thưởng phạt những người đi công cán Hoàng Sa thời nhà Nguyễn.

Dưới thời Nguyễn, hằng năm triều đình vẫn thường cử những phái đoàn ra công cán ở quần đảo Hoàng Sa. Có những đoàn trên đường ra Hoàng Sa bị bão cuốn trôi thuyền. Nhiều đoàn thực hiện tốt công việc đã được triều đình trọng thưởng, nhưng cũng có những đoàn không tuân theo ý chỉ của triều đình đã bị phạt.

Mộc bản triều Nguyễn sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 194, trang 7 và 8, năm Minh Mạng 20 (1839) chép: “Tháng 7, Viên ngoại lang Công bộ Đỗ Mậu Thưởng vâng lệnh phái đi công cán Hoàng Sa về, đem bản đồ dâng lên, vua cho là trải qua nhiều nơi, xem đo tường tất so với phái viên mọi lần thì hơi hơn. Đỗ Mậu Thưởng và các người đi cùng đều được gia thưởng áo quần và tiền”.

Mộc bản triều Nguyễn sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, quyển 204, trang 3 và 4, năm Minh Mạng 20 (1839) chép: “Tháng 7, Phái viên đi Hoàng Sa là bọn Suất đội Thuỷ sư Phạm Văn Biện trước đây bị bão sóng làm tản mát, đến nay lục tục về tới Kinh. Hỏi, chúng nói nhờ có thuỷ thần cứu giúp. Vua sai bộ Lễ chọn địa điểm ở đồn cửa biển Thuận An đặt đàn dùng lễ Tam sinh hướng ra biển lễ tạ. Thưởng tiền cho Phạm Văn Biện và viên biền binh, dân đi theo phái đoàn có thứ bậc khác nhau”.

Tuy nhiên, có những đoàn khi ra Hoàng Sa không hoàn thành nhiệm vụ khi về kinh sẽ bị triều đình xử phạt. Sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ”, quyển 49, năm Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), chép: “Tháng 7, Ngũ đẳng thị vệ Nguyễn Hoán được phái đi đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi, tự tiện quấy rối các làng. Người cùng phái đi nêu ra để hặc. Hoán phải tội lưu đến hết bậc”.

Từ việc triều đình phạt Nguyễn Hoán vì tội quấy rối các làng ở Hoàng Sa cho thấy rằng, đến thời vua Thiệu Trị, nhà Nguyễn đã cho di dân ra Hoàng Sa.

9. Quần đảo Trường Sa Việt Nam.

Quần đảo Trường Sa ở về phía Đông Nam nước ta trong khoảng vĩ độ 6050’ đến 120 Bắc; kinh độ 111030’ đến 117020’ Đông, gồm khoảng hơn 100 hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi san hô, nằm rải trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng gần 350 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 360 hải lý, chiếm một diện tích biển khoảng từ 160.000 đến 180.000 km2. Đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa cách vịnh Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) khoảng 250 hải lý.

Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng Sa. Độ cao trung bình trên mặt nước từ 3 đến 5 mét. Lớn nhất là đảo Ba Bình, sau đó là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết, Song Tử Đông, Thị Tứ, Sinh Tồn, Vĩnh Viễn, An Bang…

Ngoài ra còn nhiều đảo nhỏ và bãi đá ngầm như Sinh Tồn Đông, Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Ken Nan, Đá Lớn, Thuyền Chài. Các đảo ở đây cũng có vành đá san hô ngầm, rộng hàng trăm mét, che chở cho đảo khỏi bị sóng đánh tràn lên. Có những vành đai san hô bao quanh dài, rộng hàng chục kilomet như đảo Thuyền Chài, Đá Tây, Đá Lớn. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn, bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng 10 km2, tương đương với quần đảo Hoàng Sa, nhưng quần đảo Trường Sa trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn 10 lần quần đảo Hoàng Sa.

Trên đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây có đài khí tượng ngày đêm theo dõi và thông báo các số liệu về thời tiết ở vùng biển này cho mạng lưới quan trắc khí tượng thế giới. Và trên một số đảo có đèn biển của Tổng công ty bảo đảm hàng hải Việt Nam như đảo Song Tử Tây, An Bang, Đá Tây.

Chất đất trên các đảo của quần đảo Trường Sa là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim lẫn mùn cây có bề dày từ 5 đến 10 cm. Một số đảo trong quần đảo có nước ngầm như đảo Song Tử Tây, đảo Trường Sa, đảo Song Tử Đông. Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như cây phong ba, phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo cỏ dại.

Nguồn lợi hải sản ở quần đảo Trường Sa rất phong phú, có nhiều loại cá tập trung với mật độ cao, đặc biệt có loại vích là động vật quý hiếm, và cá ngừ đại dương có giá trị kinh tế cao.

Khí hậu, thời tiết ở vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn với các vùng ven bờ. Mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn. Một số hiện tượng thời tiết cũng diễn biến khác với trong đất liền.

Hàng năm ở quần đảo Trường Sa có tới 131 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên, phân phối không đồng đều trong các tháng. Có thể chia ra làm hai mùa: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn, vào khoảng hơn 2.500 mm. Hiện tượng dông trên vùng biển quần đảo này rất phổ biến, có thể nói quanh năm, tháng nào cũng có dông. Quần đảo là nơi thường có bão lớn đi qua, tập trung vào các tháng mùa mưa.

* Khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việt Nam là nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất quản lý liên tục, hòa bình, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vào đầu nửa thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn tổ chức “Đội Hoàng Sa” (Cát Vàng) lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, ra quần đảo Hoàng Sa thu lượm hàng hóa của các tàu đắm, đánh bắt hải sản quý hiếm mang về dâng nộp triều đình; đồng thời đo vẽ, trồng cây và dựng mốc trên quần đảo. Lúc bấy giờ, địa danh quần đảo Hoàng Sa liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa.

Vào nửa đầu thế kỷ XVIII, Chúa Nguyễn tổ chức thêm “Đội Bắc Hải” lấy người thôn Tứ Chính, xã Cảnh Dương, Phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa làm nhiệm vụ như Đội Hoàng Sa. Các hoạt động của nhà Nguyễn tại Hoàng Sa và Trường Sa được lưu lại không chỉ trong tài liệu lịch sử của nhiều tác giả trong nước như “Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư” của Đỗ Bá tự Công Đạo (1686) hay “ Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1776) mà còn được người nước ngoài ghi chép lại khi họ đến làm ăn, sinh sống tại Việt Nam.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, Chính phủ Pháp đã có nhiều hoạt động củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo với tư cách là người kế thừa danh nghĩa chủ quyền của triều đình phong kiến Việt Nam. Từ những năm 1925, 1927, Pháp đã tổ chức điều tra trên Hoàng Sa và duy trì tuần tra trên quần đảo. Liên tục trong các năm 1930 – 1933, Pháp đã đưa quân đội ra đóng ở Trường Sa. Tiếp đó, để tiện quản lý, năm 1933, Pháp đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và đến năm 1938 đã thành lập đơn vị hành chính ở Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Bên cạnh các hoạt động đó, Pháp còn cho đặt cột mốc, xây hải đăng, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện trên hai quần đảo. Trong quan hệ quốc tế, Pháp đã nhiều lần lên tiếng phản đối việc Trung Quốc nêu yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 14/10/1950, Pháp chính thức chuyển giao lại việc quản lý quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Bảo Đại. Tại Hội nghị San Francisco (1951), Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Đại, ông Trần Văn Hữu, đã khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo mà không gặp phải ý kiến phản đối nào. Về hành chính, năm 1956, Chính phủ Việt Nam cộng hòa quyết định quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy và chuyển quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên về tỉnh Quảng Nam quản lý (1961).

Khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tháng 4/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiếp quản 6 đảo do quân đội Chính quyền Sài Gòn đóng giữ: Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn và An Bang. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi thống nhất đất nước, nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng như: Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977; Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982; Hiến pháp 1992; Nghị quyết Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; Luật Biên giới quốc gia năm 2003. Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của pháp luật và thực tiễn quốc tế.

Về quản lý hành chính, năm 1982, Chính phủ đã quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay, huyện Hoàng Sa trực thuộc thành phố Đà Nẵng, và huyện Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa. Tháng 4/2007, chính phủ đã quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa.

10. Quần đảo Hoàng Sa- Việt Nam.

Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm trong khoảng vĩ độ 15045’ đến 17015’ Bắc, kinh độ 1110 đến 1130 Đông, án ngữ ngang cửa vào Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) thuộc tỉnh Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý.

Quần đảo gồm trên 30 hòn đảo, bãi đá, cồn san hô và bãi cạn nằm trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chiếm một diện tích biển khoảng 15.000 – 16.000 km2.

Quần đảo Hoàng Sa chia thành 2 nhóm:

– Nhóm phía Đông, gồm khoảng 8 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hô mới nhô lên khỏi mặt nước. Lớn nhất là đảo Phú Lâm rộng khoảng 1,5km2, có nhiều cây cối, xung quanh có những bãi san hô và bãi cát ngầm. Một số đảo khác như đảo Cây, đảo Bắc, đảo Trung, đảo Nam… có diện tích từ 0,4km2 trở xuống, nhiều đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viền quanh.

– Nhóm phía Tây, gồm khoảng 15 hòn đảo nhỏ. Các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa, Duy Mộng, Chim Én, Tri Tôn… diện tích khoảng từ 0,5km2 trở xuống và cao hơn mặt nước từ 4 m đến 6 m.

Trong quần đảo Hoàng Sa, đảo Linh Côn nằm ở ngoài cùng về phía Đông, và đảo Tri Tôn nằm ngoài cùng về phía Nam. Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo thuộc quần đảo khoảng 10 km2. Ngoài các đảo, còn có những cồn san hô, vành đai san hô bao bọc một vùng nước tạo thành một đầm nước giữa biển khơi. Có cồn dài tới 30 km, rộng 10 km như cồn Cát Vàng.

Ở phía Đông đảo Hoàng Sa, có một cầu tàu bằng đá và bê tông dài khoảng 180 mét, do một công ty Nhật Bản được nhà cầm quyền Pháp trước đây cho phép khai thác phân chim xây dựng, nay vẫn còn nguyên dấu tích.

Trên đảo Hoàng Sa còn có một trạm khí tượng được xây dựng và hoạt động từ năm 1938, đến năm 1947 được Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) công nhận và đặt số hiệu 48860 trong mạng lưới khí tượng quốc tế.

Quần đảo Hoàng Sa không có mùa đông lạnh giá, mà chỉ có mùa hè, nhiệt độ trung bình thấp nhất trong tháng 1 là 230C, cao nhất trong tháng 7 là 280 C. Thời tiết chia làm hai mùa, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6, mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 12. Lượng mua trung bình hàng năm khoảng 1.170 mm. Từ tháng 6 đến tháng 8, bão thường xuyên đi ngang qua quần đảo này.

Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng. Có đảo cây cối um tùm, nhưng có đảo chỉ có các bụi cây nhỏ và cỏ dại. Thực vật phần lớn thuộc các loài có nguồn gốc ở miền duyên hải Việt Nam. Nhiều triều vua trước đây của Việt Nam đã ra lệnh đem các loại cây ra trồng trên các đảo để thuyền bè qua lại dễ nhận, tránh khỏi tai nạn.

Trên các đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ từ lâu đời bị phong hóa. Qua khảo sát, các nhà địa chất Pháp ước tính trữ lượng khoảng gần 10 triệu tấn. Đây là nguồn phân bón có giá trị lớn.

Hải sản ở Hoàng Sa có nhiều loài quý như tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, vích, ốc tai voi… và một loại rau câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế.

Quần đảo Hoàng Sa có bao nhiêu đảo cụ thể .

Ngày xưa quần đảo này đã mang tên là Bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng. Các số liệu thống kê còn khác nhau nên có tài liệu ghi hơn 30 đảo, có tài liệu ghi hơn 130 đảo chứ không có chính xác là bao nhiêu. Thực tế là các tài liệu triều Nguyễn đã ghi lại con số hơn 130 núi (đảo) là chỉ gồm các đảo nổi của cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Riêng Hoàng Sa chỉ có khoảng 30 đảo

Có tài liệu chia Hoàng Sa thành 3 nhóm: Nhóm An Vĩnh, nhóm Trăng Khuyết, nhóm Linh Côn, và tách riêng đảo Tri Tôn ở xa. Trong chủ đề này, tôi sử dụng cách chia quần đảo thành 2 nhóm: Nhóm Tây (nhóm Trăng Khuyết) và nhóm Đông( nhóm An Vĩnh)

Nhắc nhở con cháu về Hoàng Sa .

“Tế nhơn độ vật, gởi ích quần lê, anh minh mạc trạng, công đức vô cùng, hữu cầu tất ứng”. Rải những tấm bài vị phơi trên sân, ông Thang đọc một đoạn văn tế lính Hoàng Sa. Ánh mắt của ông như chìm vào một miền xa xăm, vô định giữa biển cả trùng khơi.Trong ngôi nhà của ông, suốt 200 năm qua, bài văn tế lính Hoàng Sa được mấy thế hệ mang ra đọc tế vong linh các chiến binh Hoàng Sa. Bài văn tế lính Hoàng Sa khi được xướng to tại các cửa biển còn là lời nhắc nhở đối với các ngư dân về mảnh đất chủ quyền Hoàng Sa.

Hoàng Sa có biết bao người đã ngã xuống khi ra cắm bia khẳng định chủ quyền. Theo sử sách, đội Hoàng Sa phải có trước, hoặc muộn nhất kể từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 –1687). Đội Hoàng Sa bị triệt bãi từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Bóng dáng những hùng binh Hoàng Sa gồng người chèo thuyền ra Hoàng Sa không còn. Tuy nhiên, bài văn tế lính Hoàng Sa thường xuyên được xướng lên ở các vùng biển Quảng Ngãi đã trở thành niềm cảm hứng cho những chiếc thuyền của ngư dân tiến ra vùng biển này.

Cách đây hơn 60 năm, ở Quảng Ngãi đã có nhiều thanh niên trai tráng lèo lái con thuyền với chiếc máy lôka nhỏ xíu của Nhật, cộng với sức gió, căng buồm tiến ra Hoàng Sa. Ông Đỗ Bạn, một ngư dân ở huyện Tư Nghĩa, cho biết: “Thời đó, không có định vị, la bàn, bà con ngư dân cho thuyền ra Lý Sơn lấy hướng, 4 giờ sáng bắt đầu khởi hành đi Cát Vàng. Vừa đi vừa nhìn trời, nhìn trăng sao để đoán hướng. Ông bà xưa đi được, thì bây giờ con cháu cũng phải đi”.

(sư u tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

F- 111Aardvark

General Dynamics F-111 là một loại máy bay ném bom chiến lược tầm trung, trinh sát, và chiến đấu được thiết kế trong những năm 60. Phiên bản dành cho Không quân Hoa Kỳ được đặt tên chính thức là “Aardvark” (con lợn đất), tên lóng trong thời gian dài, trong một buổi lễ vào năm 1996 khi nó được cho nghỉ hưu. Nó vẫn được Không lực Hoàng gia Australia (RAAF) sử dụng, và nơi đây nó được gọi là “Pig” (con lợn), cho đến khi về hưu hẳn sau ngày 3 tháng 12 năm 2010.

f1111

Kiểu: Máy bay chiến đấu-ném bom

Hãng sản xuất: General Dynamics

Chuyến bay đầu tiên: 21 tháng 12-1964

Được giới thiệu: 18 tháng 07-1967

Tình trạng: Ngưng hoạt động

Hãng sử dụng chính: Không quân Hoa Kỳ, Không quân Hoàng gia Australia

Số lượng được sản xuất: 554

Chi phí máy bay: 9,8 triệu USD (FB-111A)

Những dự án tương tự: EF-111A Raven

F-111 đi tiên phong trong một số kỹ thuật sản xuất máy bay quân sự, bao gồm thiết kế cánh có thể thay đổi hình dạng (cánh cụp, cánh xoè), động cơ phản lực quạt ép có đốt sau, và radar theo dõi địa hình để bay nhanh ở cao độ thấp. Thiết kế của nó có ảnh hưởng lớn, đặc biệt là các kỹ sư Xô viết, và một số tính năng tiên tiến của nó đã trở nên tiêu chuẩn thông thường. Tuy nhiên sự khởi đầu của F-111 mắc phải nhiều vấn đề về thiết kế, và nhiều vai trò dự định cho nó, như máy bay tiêm kích đánh chặn dành cho Hải quân đã không thể thực hiện được.

Trong Không quân Hoa Kỳ, F-111 đã được thay thế hiệu quả bởi chiếc F-15E Strike Eagle trong vai trò tấn công chính xác tầm trung, trong khi nhiệm vụ ném bom chiến lược được tiếp nối bởi B-1B Lancer. Không lực Hoàng gia Australia sẽ thay thế những chiếc F-111 của họ bằng F/A-18E/F Super Hornet vào năm 2010.

Đặc điểm kỹ thuật (F-111D)

Đặc điểm chung :

Đội bay: 02 người (phi công và sĩ quan hệ thống vũ khí)

Chiều dài: 22,4 m (73 ft 6 in)

Sải cánh: Cụp 9,75 m (32 ft); Xòe 19,2 m (63 ft)

Chiều cao: 5,22 m (17.13 ft)

Diện tích bề mặt cánh: Cụp 48,77 m² (525 ft²); Xòe 61,07 m² (657.4 ft²)

Kiểu cánh: NACA 64-210.68 root, NACA 64-209.80 tip

Trọng lượng không tải: 21.537 kg (47.481 lb)

Trọng lượng có tải: 37.577 kg (82.843 lb)

Trọng lượng cất cánh lớn nhất: 44.896 kg (98.979 lb)

Động cơ: 2 động cơ phản lực quạt nén Pratt & Whitney TF30-P-100, lực đẩy 19.4 kN (17.900 lbf) mỗi động cơ; lực đẩy khi có đốt sau 112 kN (25.100 lbf) mỗi động cơ.

Đặc tính bay:

Tốc độ lớn nhất: 2,5 Mach (2.655 km/h ; 1.650 mph)

Tầm bay tối đa: 5.190 km (2.800 nm; 3.220 mi)

Bán kính chiến đấu: 2.140 km (1.160 nm; 1.330 mi)

Trần bay: 17.270 m (56.650 ft)

Tốc độ lên cao: 131.5 m/s (25.890 ft/min)

Lực nâng của cánh: Cụp 771 kg/m² (158 lb/ft²); Xòe 615,2 kg/m² (126.0 lb/ft²)

Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng: 0,61

Vũ khí :

Pháo: 1 × M61 Vulcan 20 mm (0.787 in), 2084 viên đạn (ít khi gắn)

8 đế dưới cánh, 1 khoang chứa trong thân, mang được tối đa 14,300 kg (31,500 lb) vũ khí các loại:

Bom: Mk82, Mk83, Mk84, Mk117, Bom chùm, Bom xuyên phá BLU-109, GBU-10, GBU-12, GBU-28, BLU-107, GBU-15

Tên lửa không đối đất: AGM-130, AGM-69 SRAM, Tên lửa không đối không, AIM-7 Sparrow, AIM-9 Sidewinder, AIM-54 Phoenix.

Nguồn: Wiki

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TÂM LÝ CHIẾN : KẺ THÙ CỦA VIỆT NAM LÀ AI?

Trong thời đại toàn cầu hóa thông tin bùng nổ như hiện nay, nguy cơ của chiến tranh tâm lý diễn ra căng thẳng thì việc tìm hiểu rõ kẻ thù thực sự của Việt Nam một điều vô cùng cấp thiết.

Bức tranh về nền kinh tế Việt Nam

Bức tranh về nền kinh tế Việt Nam

Vậy kẻ thù của Việt Nam là ai?

1. Tiên trách kỷ hậu trách nhân

trước hết vẫn còn nhiều công dân trong nước vì lợi ích cá nhân, bất mãn với cá nhân – tổ chức (ví dụ tổ chức tôn giáo) với lợi ích với nhà nước sau đó quay lưng với nhà nước, tiếp tay làm kích động, chia rẽ, phá hoại Việt Nam.

2.Các thế lực “thù địch” đang “nhằm bắn” vào niềm tự hào dân tộc:

Phủ nhận cuộc chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược ngụy biện về một cuộc chiến gọi là cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn”. Tại sao chúng không nói tới thực dân Pháp vì Pháp đô hộ nước ta gần trăm năm rồi, tàn ác không kể hết tội (ngay bọn chống phá không thể phủ nhận được điều đó). Chúng mượn tay địa chủ và tư sản trong nước đàn áp và cai trị. Nên cần hiểu bản chất là thực dân Pháp chứ không phải địa chủ tay sai. Hiểu như thời chống Mỹ cũng vậy, chúng ta đánh đuổi lại sự can thiệp của đế quốc Mỹ chứ không phải quân đội VNCH.

Sử dụng những tài liệu thất thiệt để hạ thấp uy tín của Hồ Chí Minh (vì Hồ Chí Minh là miền tự hào của chúng ta là tấm gương là sơi dây đoàn kết dân tộc)

3. Các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội và đối ngoại.

Các thế lực chống phá nhằm vào các điểm thiếu sót trong quản lý xã hội, những mặt xấu của Việt Nam trong thời điểm hiện nay hay những sai lầm trong lãnh đạo của Đảng từ trước tới nay mục đích chia rẽ tinh thần đoàn kết, xa rời lý tưởng xây dựng nước XHCN, nhân dân mất lòng tin vào Đảng, nội bộ rệu rã.

Lợi dụng các vấn đề nhạy cảm như vấn đề chủ quyền biển đảo, vần đề tôn giáo, nhân quyền, chính sách dân số..v.v..nhằm lôi kéo cổ xúy phần tử cực hữu ngả theo chúng về tư tưởng, và ủng hộ các phong trào chống phá do chúng phát động.

Các con đường giao lưu văn hóa trí thức như báo chí mạng, phim ảnh, âm nhạc được các thế lực chống phá sử dụng triệt để. Sử dụng cả những chiêu bài bẩn thỉu nhất như: giả mạo các website nhân vật nhà nước, cổ vũ việc moi móc những cái xấu của VN chúng gọi là “dân làm báo” làm báo kiểu gì mà toàn mang tính chất cá nhân, các tiêu đề thường thấy như “cảnh sát đánh dân” “đàn áp tôn giáo”…

Cuộc cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế toàn cầu hóa  và sự suy thoái kinh tế thế giới, đặt ra cho Việt Nam những yêu cầu đòi hỏi những chính sách đúng đắn, cẩn thận nếu sai lầm hậu quả rất nghiêm trọng. Kinh tế mạnh sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, hậu quả có thể là ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, xuất hiện nhiều tội phạm kinh tế nguy hiểm (bao gồm cả tham nhũng.).

4. lĩnh vực văn hóa tư tưởng

Cuộc chiến tranh tâm lý diễn ra rõ nét trong lĩnh vực văn hóa tự tưởng. Các thế lực thù địch thực hiện ráo riết các hành vi, kích động gây lối sống ta hóa ở một nhóm người trong xã hội. Hậu quả của chúng gây ra là tình hình tội phạm, sự bất mãn với xã hội, chống đối pháp luật, hướng ngoại, sự ra tăng nhóm người không chịu học tập tu dưỡng đạo đức, tôn thờ lối sống tự do cá nhân, sống thực dụng, sống hưởng thụ, làm việc gì cũng đòi hỏi quyền lợi. Buồn thay là số này khá nhiều và là thế hệ kế tiếp xây dựng đất nước. Trách nhiệm thuộc về ai?

Vậy chúng ta phải chiến đấu như thế nào? hiểu như thế nào về thời cuộc?

Câu trả lời trong hành động của mỗi chúng ta. Yêu nước không cần phải có cái gì lớn lao to tát, hãy làm công dân tuân thủ pháp luật, giúp đỡ những người xung quanh bạn, bỏ dần tính ích kỷ cá nhân, học hỏi thật nhiều làm việc có suy luận và hãy nhìn cuộc đời này với con mắt sáng tươi đep đẽ hơn.

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TÂM LÝ CHIẾN : SỰ ĐỐI LẬP – ĐỐI KHÁNG CÁC HỆ TƯ TƯỞNG

Chúng ta nghe và nói nhiều đến sự đối kháng và khác biệt giữa hai hệ tư tưởng CNTB (chủ nghĩa tư bản) và CNXH (chủ nghĩa xã hội). Vậy trong môi trường toàn cầu hóa và đa phương hóa như hiện nay tính chất đối lập và sự đối kháng ấy diễn ra như thế nào ?

Việt Nam thời kỳ hội nhập

Việt Nam thời kỳ hội nhập

CNTB ngày nay đã có nhiều “biến đổi” để phù hợp với nhận thức của xã hội. Song về bản chất, CNTB vẫn là “giá trị thặng dư” quyền lợi tập trung vào tầng lớp thiểu số trong xã hội, công bằng xã hội chỉ phụ thuộc vào số tiền mà nhà tư bản tùy tâm chia sẻ.

Nhiều người suy nghĩ rằng đó là đương nhiên, bởi “tôi giàu có hơn thì tôi phải có cuộc sống sung sướng hơn”, “tôi chia sẻ sự giàu có của tôi cho ai là quyền của tôi”, “ai ủng hộ tôi thì tôi giúp đỡ”,…

Hãy nhìn xem chúng ta có gì ở xã hội tư bản?

Sự phát triển của bạn bị bó buộc bởi cái gọi là “độc quyền” hay “bản quyền” kìm nén (ví dụ như bản quyền Windown của Microsoft thực chất là bảo vệ túi tiền khổng lồ…). Rõ ràng, các nhà nước tư bản, người ta đang sử dụng các thiết chế luật pháp..v.v. bảo vệ các nhà tư bản và nguồn lợi thu được từ sự độc quyền của họ dưới mọi hình thức, chiêu bài…

CNXH đang chật vật trên con đường tìm ra lối đi đúng đắn, mà trong mỗi quốc gia có hoàn cảnh và đặc trưng xã hội khác nhau hình thái của xã hội sẽ khác nhau. Trở ngại là rất lớn, bởi các thế lực đối nghịch, các nước tư bản luôn lôi kéo các nước này vào nhóm của họ, làm đồng minh của họ (đồng minh với các tư bản có lợi đó là sự đầu tư tài chình không hạn chế, là sự bảo đảm về quân sự,…), kéo theo là là một chính quyền lệ thuộc, quốc gia lệ thuộc mà mọi vấn đề đều phụ thuộc vào đồng minh của họ các tư bản. Các quốc gia trong “Phong trào không liên kêt” là hình thức chống lại sức mạnh của “đồng tiền” sự lôi kéo, áp đặt lối chơi vô lý của các nước tư bản giàu có vào các nước kém phát triển.

Trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa khó khăn nhất vẫn là các mặt trái của thời kỳ quá trình độ lên chủ nghĩa xã hội (đó là vấn nạn tham nhũng, quan liêu, sai lầm về nhân thức tư tưởng…), và ảnh hưởng to lớn về “cơn bão” toàn cầu hóa, sự hòa nhập kinh tế và văn hóa giữa các cường quốc lớn, gây ra các trở ngại tâm lý, sự mất lòng tin của nhân dân về công cuộc xấy dựng CNXH mà các nước như Việt Nam đang theo đuổi.

Bạn nghĩ đài BBC (Anh), hay Á châu tự do – RFA kể cả VOA(Mỹ)… là của “thế giới” tự do ngôn luận? Họ nói khách quan về Việt Nam? nếu nghĩ vậy bạn quả thật quá “nông cạn” (bạn đã bao giờ đặt câu hỏi về nguồn gốc của các kênh truyền thông này).

Theo dõi thông tin ở những trang này ta dễ nhận thấy đây là chiêu bài “đấu trang lâu dài” của các tư bản. Họ lập lờ giữa chuyện thật và chuyện bịa, hay chơi trò cắt xén, giấu đầu cắt đuôi, trích dẫn và xuyên tạc, không có tính xây dựng như nêu ra phương hướng đúng – sai mà chỉ gieo rắc nghi hoặc cho người đọc.

Đặc biệt, họ rất chuyện nghiệp trong vấn đề xoáy vào việc chia rẽ cộng đồng người Việt, lợi dụng sự tự do, nhân quyền, tự cho phép họ can thiệp vào việc nội bộ của các quốc gia khác, kiểu như ai làm đồng minh với “họ” thì sống..v.v. Rất cần có nhiều thông tin đa chiều, song rất cần cảnh giác với các chiêu bài kiểu này.

Tóm lại, trong thời điểm hiện nay, các tư bản họ đang củng cố vị thế, chỗ đứng của mình. Các tư bản lo ngại sự phát triển của các luồng tư tưởng mà CNXH là một trong số đó, sẽ gây ảnh hưởng cũng như làm suy giảm các lợi ích họ đang có. Đó là nguyên nhân chủ yếu để các tư bản, sử dụng các chiêu bài ngoại giao, tâm lý chiến (thông qua đối ngoại quốc gia, truyền thông có vẻ trung lập,…), đánh hiểm vào các tử huyệt của các nước đối lập như: vấn đề tôn giáo – tín ngưỡng, tự do nhân quyền, các vấn đề mâu thuẫn thường thấy về biên giời chủ quyền quốc gia các nước liền kề,… để thực hiện tham vọng mưu đồ bảo vệ lợi ích lâu dài của các tư bản và sự tồn tại của CNTB.

Đối với Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh quan hệ ngoại giao mạnh mẽ và tính chất toàn cầu hóa, đa phương hóa,.. vấn đề chiến tranh tâm lý đặt ra với tính chất sống còn của một quốc gia dân tộc cũng như con đường CNXH đang còn ở phía trước… Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.

(Còn nữa)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

NGUYỄN QUÁN NHO – GƯƠNG KHỔ HỌC THÀNH TÀI

Nguyễn Quán Nho, quê ở làng Văn Hà (Thiệu Hóa, Thanh Hóa), đỗ tiến sĩ năm 30 tuổi, từng giữ tới chức tể tướng với gần 50 năm phò tá bốn đời vua Lê. Đến nay, dân gian vẫn còn truyền tụng nhiều câu chuyện về lòng ham học, khổ luyện thành tài của ông. 

Theo Lịch triều hiến chương loại chí, những người phò tá có công lao tài đức, đời Lý trị vì 215 năm được xếp có bốn người. Đời Trần suốt 175 năm có 10 người; đời Lê Sơ: 18; đời Mạc: 1; đời Lê Trung Hưng: 39.

Trong số 39 người phò tá có công lao tài đức thuộc đời Lê Trung Hưng (khoảng 200 năm) có Tể tướng Nguyễn Quán Nho. Ông quê ở làng Văn Hà, nay là làng văn hóa Dương Hòa, xã Thiệu Hưng, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Năm 19 tuổi ông đỗ cử nhân, 25 tuổi đã giữ chức Tả thị lang. Vừa làm, vừa học, năm 30 tuổi ông đỗ tiến sĩ, sau đó giữ nhiều trọng trách như: Đô đốc liên tỉnh Hải Dương – Quảng Ninh. Do có công lao đóng góp khi về triều ông được cử làm phó Đô ngự sử, Thượng thư bộ Binh, bộ Lễ, bộ Lại. Phụ trách những khoa thi cao nhất của triều đình để tuyển chọn hiền tài, dạy dỗ ấu chúa. Ông được triều đình tin dùng cử đi sứ Trung Quốc nhiều lần v.v.

Phò tá bốn đời vua với thời gian gần 50 năm trong đó có 11 năm làm tể tướng, ông đã có vai trò lớn xây dựng triều vua hưng thịnh Lê Hy Tông (dài 30 năm). Năm 70 tuổi ông về hưu tại quê nhà, một năm sau thì mất, được triều đình phong tặng tước Quận công, được nhân dân đương thời ca tụng “Tể tướng Văn Hà thiên hạ âu ca”.

Bộ Văn hóa – Thông tin đã ra quyết định công nhận mộ và đền thờ ông tại quê nhà là di tích lịch sử. Bằng nguồn kinh phí của Nhà nước và dòng họ đóng góp, đền thờ mới của ông (ngay trên nền đền thờ cũ) đã khánh thành cuối năm 1999. Điều ít người biết tới đó là bức chân dung vẽ ông đang ngồi có tỷ lệ bằng người thật mà dòng họ đã lưu giữ được hơn 300 năm nay. Bức tranh do một nữ họa sĩ nhà Thanh xúc cảm trước sứ thần nước Đại Việt có dung mạo tuyệt đẹp mà vung nét bút.

Quán Nho - Tiến sĩ vớt bèo

Quán Nho – Tiến sĩ vớt bèo

Cuộc đời Tể tướng Nguyễn Quán Nho là tấm gương sáng khổ học thành tài. Xuất thân nơi thôn dã, ông lại mồ côi cha từ lúc hai tuổi. Mẹ là Trịnh Thị Phúc, mới hơn 20 tuổi ở vậy mò cua bắt ốc, tần tảo nuôi con.Gia phả và dân gian truyền lại, lúc còn nghèo khó ông có tên là Cháy, hoặc Lửa. Khi đỗ đạt về quê, dân làng gọi đùa là ông Cháy, ông Lửa. “Cháy” tức là cháy cơm. Mẹ ông nghèo không có tiền mua nồi đồng, thường dùng nồi đất nấu cơm, nấu cháo nên rất dễ vỡ, phải thường xuyên đi mượn. Thương cảnh con mồ côi nhưng thông minh, ham học, xóm giềng bảo nhau mỗi khi ông đi mượn nồi, họ vô tình để lại một miếng cơm cháy. Thế là ông lại có thêm một chút để ấm lòng. Còn “lửa”, tương truyền là do việc ông thường dùng ánh sáng đom đóm thay lửa đèn dầu để học. Mỗi khi nhà quá túng bấn không đủ tiền mua dầu, ông đã bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng mỏng hoặc vỏ cà đã nạo hết ruột chỉ còn vỏ mỏng tang để lấy ánh sáng thay đèn. Không có tiền mua giấy ông phải viết chữ vào lá chuối, vào cây xương rồng, lấy que viết chữ xuống đất để học. Rồi chuyện ông đi bộ từ làng Văn Hà ra kinh đô Thăng Long để thi với tấm thân gày gò, quần áo bạc màu, vá víu. Trong hành trang có cả chiếc yếm lụa của mẹ với lời dặn ” khi cần con bán đi mà tiêu, mẹ chẳng còn gì hơn”. Đỗ tiến sĩ, Nguyễn Quán Nho vinh qui bái tổ, về đến làng mẹ vẫn còn đang vớt bèo dưới ao để nuôi lợn. Mừng vui khôn tả nhưng để thử ông, bà vẫn chăm chú vớt bèo. Gặp mẹ, ông mừng vui cuống quýt, nhưng thấy rổ bèo chưa đầy, ông lấy sào gạt bốc đầy rổ, rửa sạch bèo bưng về cho mẹ trước khi ra đình làng làm lễ. Từ đấy dân làng có câu “vinh qui bái tổ sau rổ bèo đầy”.

Ở làng quê ông hiện vẫn còn cây dừa lạ có ba ngọn. Ngọn nào cũng cho quả. Người ta cho rằng cây dừa ba ngọn tượng trưng cho ba vị đại thần của làng. Thứ nhất là Đinh Lễ, Khai quốc công thần triều Lê. Thứ hai là Trịnh Cao Đệ, đỗ tiến sĩ năm 1650, lúc 21 tuổi. Ông từng giữ chức Tự khanh, sau khi mất gia phong Tả thị lang, tước hầu. Trịnh Cao Đệ là thầy học của Nguyễn Quán Nho. Và người thứ ba là Tể tướng Nguyễn Quán Nho. Một cái làng nhỏ mà đã có ba danh tướng, lương thần. Đến đây tôi lại nhớ đến câu nói về xứ Thanh của Lê Qúy Đôn: “Sông núi đẹp kỳ lạ, là một miền danh lam thắng cảnh bậc nhất, thuở xưa trải nhiều triều đại vốn vẫn gọi là trấn trọng yếu. Đến triều Lê lại là nơi cội nguồn gốc rễ. Khí lành tươi tốt, chung đúc sinh ra nhiều bậc vương tướng, do có khí tinh hoa mà xuất hiện lắm đấng văn nho. Theo lẽ thường thì miền đất sinh ra các bậc tuấn kiệt hơn hẳn người thường. Vượng khí tinh hoa vùng đất này là bậc nhất so với các vùng đất nước”.

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

CỜ ĐỎ SAO 5 CÁNH TRẮNG – GIẤC MƠ CỘNG HÒA CỦA TEXAS

Cờ này xuất hiện từ cuộc chiến do Dr. James Long lãnh đạo từ năm 1819, khi đó, Texas vẫn thuộc Tây Ban Nha. Dr. James Long cho quân đánh chiếm Nacogdoches và nói rằng thành phố là thủ đô của một nước cộng hòa mới của Texas.

Cờ đỏ sao 5 cánh trắng - giấc mơ cộng hòa của Texas

Cờ đỏ sao 5 cánh trắng – giấc mơ cộng hòa của Texas

Lá cờ đỏ sao trắng năm cánh ở ở giữa, được xem là biểu tượng “Lone Star”. Vợ ông, Jane Herbert Wilkerson Dent đã thiết kế lá cờ. Sau đó, một số bài báo, được viết năm 1836, cũng được mô tả một lá cờ màu đỏ, nhưng thêm vào các chữ cái chính tả “Texas” được đặt giữa các điểm của ngôi sao.

Nền cộng hòa này kéo dài một tháng, với Long là tổng thống đầu tiên và duy nhất, trước khi quân đội Mexico đánh đuổi ông và những người theo ông từ Texas. Long và những người theo ông đã trốn sang New Orleans trong bang Louisiana, ông bắt đầu để tuyển quân để tạo một cuộc xâm lược thứ hai vào lãnh thổ Mexico.

Trong khi ở New Orleans, vợ của ông đã thực hiện một phiên bản thứ hai của lá cờ bằng cách thêm vào 13 sọc đỏ và trắng và đặt ngôi sao trên một nền màu đỏ. Được một số người là lá cờ chính thức thứ hai của nước Cộng hòa Texas.

James Long, một lần nữa xâm chiếm Texas năm 1821, mang theo lá cờ mới Lone Star với 13 sọc đỏ và trắng với hy vọng thiết kế của họ sẽ thu hút nhiều người Mỹ cho sự nghiệp của họ. Bên cạnh việc tạo ra những lá cờ, vợ của ông Jane Long, còn được gọi là “Mẹ của Texas” sau khi cô sinh một đứa con trong một chiến dịch chống lại chồng bà La Presidio Bahia tại Goliad.

Sau đó, Long đã được đáp ứng các yêu cầu với những người làm việc cho sự độc lập của Mexico ở Mexico City. Khi ông đến Mexico City đã “vô tình” bị bắn và bị giết trong những hoàn cảnh rất đáng ngờ. Người ta nói rằng ông đã bị bắn bởi một người lính có vấn đề về não.

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

CHẾ ĐỘ SOVIET VÀ QUAN ĐIỂM VỀ NHÂN DÂN

Chế độ Soviet, của cải nằm trong tay nhân dân. Cái đó không có gì là sáo rỗng cả, hay như bạn nói là “mọt sách”. Câu trả lời hoàn toàn ổn, hiểu được nó cũng không phải việc khó.

Chế độ Soviet

Chế độ Soviet

Trước tiên phải hiểu nhân dân là gì?

Có thể hiểu nôm na “nhân dân” là “người dân”, toàn thể mọi người sinh sống trong một cộng đồng, có thể là một làng một huyện, một TP, một Quốc gia hoặc toàn thế giới…

Vậy của cải nằm trong tay nhân dân là gì?

Vì Liên Xô là một nước XHCN, như chúng ta đều biết, cho nên theo định nghĩa, bản chất của Nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, đáp ứng những yêu cầu sau:

1) Nhà nước do nhân dân lập ra thông qua cơ chế phổ thông đầu phiếu và kín;

2) Mọi cơ quan quyền lực Nhà nước đều do nhân dân ủy quyền;

3) Mọi hoạt động của Nhà nước vì lợi ích của nhân dân;

4) Mọi hoạt động của Nhà nước phải được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân;

5) Nhân dân có quyền bày tỏ sự tín nhiệm với các cơ quan Nhà nước.

Từ đó có thể rút ra : Của cải nằm trong tay nhân dân, ủy quyền cho nhà nước quản lý, sử dùng vào mục đích duy trì và phát triển đất nước…

Bạn có thấy những nhà máy thủy điện hùng vĩ, những khu nhà khang trang, những nhà máy xí nghiệp hiện đại, chế độ y tế – giáo dục miễn phí, nền công nghiệp quốc phòng hùng hậu… mà Liên Xô đã tạo ra không?

Đó đều là của cải của nhân dân Soviet…

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TÂM LÝ CHIẾN

Thời đại thông tin bùng nổ như  ngày nay khiến cho các hình thức chiến tranh vũ trang thông thường không phát huy nhiều tác dụng như trước nữa. Thế vào đó, các phương thức chiến tranh mới được tạo ra thông qua các phương tiện truyền thông. Một trong số đó là phương cách sử dụng chiến tranh tâm lý.

hình ảnh có tính minh họa

hình ảnh có tính chất minh họa

Vậy chiến tranh tâm lý là gì? Phương thức tiến hành ra sao?

– Chiến đấu tâm lý (hay tâm lý chiến) thực chất là vấn đề tích tụ mâu thuẫn của đối phương, tích lũy về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất, đạt sự chín muồi gây “thối rữa” đối phương khiến cho đối phương phải bị “rụng xuống”.

– Có nhiều cách tích lũy mâu thuẫn nhưng chung quy lại chỉ có hai cách cơ bản:

+ Cách thứ nhất: có thể nói là cách cổ điển, cách nhất thời, là dồn những mâu thuẫn nhỏ của đối phương vào một điểm (khiến cho vết thương nặng lên, nhiễm trùng mà chết) bằng cách phê phán, đả phá, lột tả các nhược điểm của đối phương (cách này dùng trong chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh” nếu để lâu đối phương phát hiện sẽ nâng cao sức đề kháng, khắc phục và giải quyết mâu thuẫn).

+ Cách thứ hai: có thể gọi là cách “diễn biến hòa bình” (hay là cách ru ngủ đối phương), khiến cho đối phương tự mãn, chỉ chú ý hưởng thụ, mất cảnh giác. Quá trình hưởng thụ sẽ gắn với quá trình tự tích lũy mâu thuẫn của bài toán thích nghi tồn tại ngay trong lòng đối phương (cây được chăm sóc, bón lót càng tốt nó sẽ càng non nớt thì chỉ cần một cơn cuồng phong nhỏ là có thể dập cho tơi tả).

(còn nữa)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TƯỢNG ĐÀI HỒ CHÍ MINH Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt nam. Nhờ có Người, Việt Nam là quốc gia đã đánh và chiến thắng âm mưu xâm lược và sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân đế quốc, khiến cho thực dân đế quốc thay đổi phương pháp cai trị của chúng trên phần còn lại của thế giới…

Bởi vì lẽ đó,  Hồ Chí Minh và hình ảnh của Người được bạn bè thế giới ngưỡng mộ và kính trọng. Những tượng đài, hình ảnh trên tem,… đã chứng minh cho ta điều đó.

tổng hợp các hình ảnh

Hình ảnh về Hồ Chí Minh trên thế giới và Việt nam

Đất nước Cuba và tượng đài Hồ Chí Minh

Cuba và tượng đài Hồ Chí Minh

Cuba và tượng đài Hồ Chí Minh

Tượng đài Hồ Chí Minh bằng đồng do kiến trúc sư Joel Diaz, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba Việt Nam thiết kế khánh thành vào năm 2003. Được xây dựng nổi bật giữa Công viên Acapulco cạnh Đại lộ 26, một trong những công viên đẹp nhất ở trung tâm Thủ đô Lahabana (nhân dịp này được đổi thành Công viên Hòa Bình).

Mêxicô đối với Hồ Chí Minh

Đây là bức tượng toàn thân chủ tịch bên bộ bàn ghế mây giản dị, đằng sau phía trên là dòng chữ vàng “không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ.

Mexico

Mexico

Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, thuộc bang Guerrereo (miền Nam Mêxicô).

Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, thuộc bang Guerrereo (miền Nam Mêxicô).

Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, thuộc bang Guerrereo (miền Nam Mêxicô). Tượng đài chân dung Hồ Chí Minh được đặt đối diện tượng đài người anh hùng dân tộc vĩ đại của châu Mỹ Latin Simon Bolivar, tại đại lộ Miguel Aleman, đại lộ chính và lớn nhất thành phố Acapulco.

Bức chân dung Hồ Chí Minh trên đất Pháp

Pháp là đất nước ghi dấu nhiều ký ức nhất về hành trình bôn ba của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành. Như một phần của niềm hãnh diện ấy, nước Pháp đã gìn giữ những gì liên quan đến Hồ Chí Minh như một báu vật vô giá giữa thời đại chúng ta.

Pháp

Pháp

+ Di tích: Nhà số 9, ngõ Compoint, Quận 17 (Paris). Tại đây Hồ Chí Minh đã từng sinh sống và làm việc trong thời gian dài trên đất nước Pháp.

+ Bảo tàng lịch sử sống Montreuil. Đây là một khu bảo tàng về toàn bộ cuộc đời sự nghiệp Hồ Chí Minh, quá trình Người sinh sống và làm việc tại nước Pháp.

Bức tượng chân dung Hồ Chí Minh duy nhất trên nước Pháp được đặt trong khuôn viên của bảo tàng.

Tình cảm của Nước Nga đối với Hồ Chí Minh

Quảng trường và Tượng đài Hồ Chí Minh ở thủ đô Matxcova.

Nga

Quảng trường và Tượng đài Hồ Chí Minh ở thủ đô Matxcova.

Tượng đài Hồ Chí Minh đặt trong quảng trường là tác phẩm Vladimir Efimovich Tsigal, nghệ sĩ nhân dân, viện sĩ Viện hàn lâm Mỹ thuật Liên Xô, tác giả của hơn 40 nhóm tượng đài nổi tiếng.

Hình tượng Hồ Chí Minh tại Hungari

Tại Hungary, đài tưởng niệm Hồ Chí Minh (có từ năm 1976) được dựng tại công viên thành phố Zalaegerszey, cách thủ đô Budapest khoảng 220 km.

Hunggari

Hunggari

Hình ảnh Hồ Chí Minh trên đất Ấn Độ

+ Đường Hồ Chí Minh ở thành phố Cancutta.

+ Tượng đài Hồ Chí Minh, được đặt tại giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Nêru thành phố Cancutta.

+ Ngay tại thủ đô Niu Đêli cũng có một đại lộ lớn được đặt tên Hồ Chí Minh.

Ấn Độ

Ấn Độ

Madagascar và tượng đài Hồ Chí Minh

Tại đất nước châu Phi này, quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh đặt tại trung tâm thủ đô Antananarivo.

Madagascar

Madagascar

Hình ảnh Hồ Chí Minh trên con tem của các nước

Chân dung Hồ Chí Minh trên tem các nước trên thế giới.

Chân dung Hồ Chí Minh trên tem các nước trên thế giới.

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU HÌNH ẢNH | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TRUYỀN THUYẾT VỀ HẠC THÀNH

Truyền thuyết kể: 

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, tháng 6 năm Nhâm Tuất 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua lập ra vương triều Nguyễn (Triều đại phong kiến quân chủ cuối cùng trong lịch sử Trung đại Việt Nam) lòng vẫn không yên với đất Bắc Hà, nơi có nhiều cựu thần nhà Lê. 

Hạc Thành chụp từ năm 1943

Hạc Thành chụp từ năm 1943

Sau ngày đăng quang vua Gia Long bàn bạc chia đặt quan chức để cai quản 11 trấn Bắc Thành, bàn phép khoa cử thu hút nhân tài, vỗ về sĩ phu đất Bắc. Trước khi xa giá hồi loan, ông về Nguyên miếu ở trong thành Triệu Tường, thuộc địa phận Quý Hương, Quý Huyện (Quý Hương: Gia Miêu ngoại trung. Quý Huyện: tức huyện Tống Sơn, Hà Trung, Thanh Hoá ngày nay) bái yết tiên tổ.

Đêm ấy, một đêm mùa thu se lạnh nơi huyện Tống Sơn. Mưa thu như lưới giăng câu móc ngoài cửa sổ, gió núi ràn rạt thổi về nhà vua bồn chồn không yên. Một suy nghĩ bám riết trong ông:

Chọn địa điểm nào để rời thành Tư Phố đặt trấn lị cho Trấn Thanh Hoa? 

Đất Thanh Hoá là đất thang mộc, núi sông ngùn ngụt linh khí. Phía Tây bắc Trấn có đất An Tôn, có thành Tây Đô nhưng là nơi đất chật hẹp, hẻo lánh, nơi đầu non cuối nước, hợp với loạn mà không hợp với trị. Phía tây nam có đất Đông phố (huyện Đông Sơn) nhà Tuỳ (589) đã từng chọn đặt quận trị, phía Đông Bắc có đất Duy Tinh (huyện Hậu Lộc) đời Lý (1012) chuyển về nhưng đều không có gốc vững bền. Thao thức mãi đến tận canh ba nhà vua mệt mỏi, chập chờn đi vào giấc ngủ.

Đột nhiên cửa hành cung mở xịch. Một người, mặt mũi khôi ngô, tay dài quá gối, mình như mình hạc, vóc như vóc tiên, toàn thân áo quần trắng muốt tiến đến sụp lạy trước mặt vua tâu:

– Biết Bệ hạ đang trăn trở tìm địa điểm dời thành Tư Phố, Thần Bạch Hạc phái tôi đến giúp bệ hạ việc này. Ngày mai khoảng giữa giờ Thìn xin bệ hạ theo tôi định đất. Đó là nơi bền vững muôn đời, loạn có thể giữ, bình có thể trị, dẫu sau này có lần đổ nát nhưng lại hoàn như châu về Hợp Phố.

Nhà vua toan hỏi thì người đó chẳng thấy đâu chỉ thấy một ánh hào quang trắng mềm mại tựa ánh trăng ngàn uyển chuyển bay qua rèm cửa. Dìu dịu mùi hương thơm kỳ lạ lan toả khắp nhà. Giật mình tỉnh giấc nhà vua mới biết mình vừa qua một giấc chiêm bao. Nửa mừng nửa sợ nhà vua tự hỏi:

– “Thần Bạch Hạc là vị thần nào, phải chăng đây là thần Chim Lạc, cha ông xưa đã thờ là Chim Tổ, loài linh điểu giang cánh bay trên trống đồng? Như vậy linh khí của núi sông này đã giúp ta tìm ra nơi trấn lỵ cho trấn Thanh Hoa”.

Sáng hôm sau nhà vua kể lại chuyện trong giấc chiêm bao cho các cận thần, truyền lệnh sẵn sàng xe ngựa chờ Thần linh ứng. Nhà vua còn dặn giữa giờ thìn hễ có người mặc áo trắng đến lập tức phải đón vào bái kiến. Chưa đến giờ thìn các quan hầu cận đã dõi mắt chăm chú quan sát những con đường dẫn đến Nguyên miếu.

Rồi giờ thìn cũng tới. Những lối mòn thấp thoáng trên rặng núi xa xa vẫn chẳng thấy bóng vị thần hay vị tiên nào xuất hiện. Đúng giữa giờ thìn bỗng từ trên không vang vọng xuống tiếng chim lạ. Nhà vua cùng các quan ngửa mặt trông lên. Một con chim Hạc trắng to lớn khác thường cứ bay lượn trước sân nhà vua ngự như có ý đợi chờ.

Nhà vua hiểu ra liền lên xe ngự giá. Chỉ chờ thế chim Hạc kêu to liền mấy tiếng rồi bay trước dẫn đường. Đến một vùng đất mới có rất nhiều đầm nước xanh biếc chim Hạc ngừng cánh bay hạ xuống trước xe nhà vua gật gật đầu. Vua chưa kịp đáp lời cảm tạ thì chim Hạc đã vụt bay sang một đầm nước kế bên, thân hình đột nhiên cứ nhỏ dần nhỏ dần hoà lẫn vào các loài chim khác đang tung tăng bơi lội trên mặt nước.

Nhà vua phóng tầm mắt bao quát khắp vùng. Quả là nơi sơn thuỷ hữu tình. Núi sông như đặt bày trên đồng xôi bãi mật. Phía đông có dãy Linh Trường và dãy Trường Lệ làm án. Tả có long sơn long thuỷ, hữu có hổ phục hổ chầu. Đây chính là vùng đất vua trông đợi bấy lâu nay. Vui mừng khôn xiết nhà vua chỉ tay xuống đất dõng dạc bảo các quần thần: Ta sẽ dựng thành ở chính nơi này. Toà thánh đó gọi là thành Chim Hạc.

Vùng đất mà nhà vua quyết định dựng thành bây giờ là Thành phố Thanh Hoá, tỉnh lị của xứ Thanh ngày nay.

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

NHỮNG NGƯỜI NHÂN DANH TỰ DO DÂN CHỦ HỌ MUỐN GÌ ?

Vừa qua, dân cư mạng xã hội facebook truyền tay nhau một bức ảnh chụp cuộc của nói chuyện thông qua face giữa nick Trần  Khải Thanh Thủy và Bùi Hằng do một nick có tên Thai Dac Thung chia sẽ. Từ những câu chuyện của họ các bạn sẽ hiểu phần nào bản chất thực sự của vấn đề.

Nội dung của cuộc nói chuyện như  sau :

”-Tran Khai Thanh Thuy: Đừng lo, chúng sẽ bị quan thầy Trung Cộng dạy cho một bài học vào cuối năm nay…

Bui Hang: Thế nên em mới không đi biểu tình mà thay bằng lập đàn cầu cho ”Thầy nó đánh nó” đó chị” – Hết trích

Nguồn : Thai Dac Thung

Nguồn : Thai Dac Thung

Có nhiều luồng thông tin trái chuyền về vấn đề này. Như nghi vấn, không biết đây có phải là lời lẽ thực sự  của hai người ? hai nick trên có thật sự của Trần Khải Thanh Thủy hay bà Bùi Hằng. Tuy nhiên, thông qua bạn Thai Dac Thung và nhiều luồng ý kiến ta thấy rõ thông qua nick của nhân vật Bùi Hằng và nguồn ảnh được lấy chính từ  này (nick được cho là của bà Bùi Hằng:https://www.facebook.com/bui.hang1), thì gần như ngay lập tức cả cmt với nội dung đã chụp đã biến mất. Rõ ràng, chủ nhân của nick đã cố gắng phi tang nhân chứng.

Thông qua lời lẽ ta thấy rõ âm mưu của Việt Tân (Trần Khải Thanh Thủy là đảng viên của đảng này). Họ muốn có chiến tranh Trung – Việt. Họ khát cầu sự đổ máu để chính quyền hiện tại do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo rơi vào sự suy yếu, lệ thuộc. Và rõ ràng, những điều đó cho ta thấy đằng sau hàng tá lý do và hành động, Việt Tân tự họ và các đảng viên của họ lòi cái mặt của những kẻ cơ hội. Họ muốn nắm lợi ích chính trị, muốn cầm quyền,… Thứ họ đánh đổi là gì ? là (Bui Hang: Thế nên em mới không đi biểu tình mà thay bằng lập đàn cầu cho ”Thầy nó đánh nó” đó chị” )… ?

Thông qua đây, xin hỏi bà Bùi Hằng tham gia biểu tình vì lý do gì ? Yêu nước ? Yêu nước mà đi cầu đàn để Việt Nam rơi vào máu lửa chiến tranh ? Bà Hằng và thế hệ của bà chí ít cũng đã chứng kiến đã cảm nhận sự khổ đau của chiến tranh ! Cả thế kỷ XX, đối với Việt nam là thế kỷ của máu và nước mắt. Họ những người vừa đi qua cuộc chiến tham gia các cuộc chiến vẫn còn đó.

Hết giao giảng tự do dân chủ Mỹ, dân chủ xã hội Tây Phương giờ lại thêm cái trò truyền thông cho Tàu dẹp đường dư luận vào cướp nước. Âm mưu có dư, mục đích có thừa, những kẻ cơ hội đục nước béo cò, xây dựng niềm tin, tạo dựng thế lực bằng việc làm loạn, phá hoại sự bình yên đất nước thật đáng khinh.

Mục đích cuối cùng của họ :

– Bôi nhọ uy tín của đảng cộng sản Việt Nam và thành quả của cuộc cánh mạng tháng tám và công cuộc kháng chiến kiến quốc, cũng như công cuộc đổi mới trong thời gian qua

– Lợi dụng truyền thông phương Tây, mâu thuẫn sẵn có (bất cứ quốc gia nào liền kề đều có ít nhiều mâu thuẫn biên giới không riêng Việt – Trung), nhằm khiêu khích, gây chia rẽ nội bộ, nhân dân mất niềm tin vào chính quyền. Gây làn sóng chống đối ngay trong nội bộ chính quyền và đảng cộng sản Việt Nam.

– Cuối cùng nhằm vào phá hủy điều 4 hiến pháp, rộng đường cho đảng phái phe cánh chúng lên nắm chính quyền.

Những trò bôi bẩn hạ cấp như làm tiền giả, clip bôi nhọ chính quyền, hay tài trợ biểu tình chống đối,… chỉ càng khiến cho chúng (các thế lực cơ hội cả trong và ngoài nước) rơi vào bẫy của các thế lực ngoại xâm làm tay sai cho chúng hòng chiếm đất, cướp đảo và nguy hiểm hơn là sự lệ thuộc nước ngoài (một chính quyền tay sai) nếu mục đích của chúng thành công.

Bạn muốn làm dân của một quốc gia độc lập – tự do hay là một kẻ tay sai trong một quốc gia một chính quyền lệ thuộc ?

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

USS Independence (Littoral Combat Ship) LCS-2

USS Independence (LCS-2) là con tàu dẫn cho lớp độc lập của các tàu chiến duyên hải. Nó sẽ là con tàu thứ sáu của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên cho khái niệm về “độc lập”. Thiết kế được sản xuất bởi tập đoàn General Dynamics cho chương trình LCS của Hải quân, và cạnh tranh với thiết kế Lockheed Martin-class Tự do.

USS Independence (Littoral Combat Ship) LCS-2

USS Independence (Littoral Combat Ship) LCS-2

“Độc lập” được dự định như là một giao thông tấn công nhỏ mà có thể mất khả năng khác nhau với việc cài đặt các module nhiệm vụ. Con tàu là một thiết kế trimaran có thể làm cho hơn 40 hải lý (74 km/h; 46 mph), và được giao cho Hải quân vào cuối năm 2009.

DescriptionThe thiết kế cho Independence (LCS 2) được dựa trên một thân tàu tốc độ cao (Benchijigua Express) trimaran được xây dựng bởi Austal (Henderson, Australia). 418-foot (127 mét) bề mặt chiến sĩ thiết kế đòi hỏi phải có một phi hành đoàn của 40 thủy thủ. Mặc dù thân trimaran làm tăng tổng diện tích bề mặt, nó vẫn có thể đạt tốc độ bền vững của khoảng 50 hải lý (60 mph, 90 km / h) với một loạt các 10.000 hải lý (19.000 km)

Với 11.000 mét khối khối lượng tải trọng, nó được thiết kế với tải trọng đủ và khối lượng để thực hiện một sứ mệnh với một mô-đun nhiệm vụ riêng biệt trong dự trữ, cho phép tàu để làm nhiệm vụ phức tạp mà không phải được tân trang lại. Boong tàu bay, 1.030 m2 (11.100 sq ft), có thể hỗ trợ hoạt động của hai SH-60 Seahawk máy bay trực thăng, nhiều UAV, hoặc một CH-53 Sea Stallion, máy bay trực thăng. Thân trimaran sẽ cho phép hoạt động bay biển nhà nước.

Độc lập mang một vũ khí mặc định để tự vệ, chỉ huy và kiểm soát. Tuy nhiên, không giống như tàu truyền thống chiến đấu với trang bị vũ khí cố định như súng và tên lửa, nhiệm vụ thiết kế mô-đun có thể được cấu hình cho một gói nhiệm vụ tại một thời điểm. Modules có thể bao gồm các máy bay có người lái, phương tiện không người lái, cảm biến off-board, hoặc nhiệm vụ định biên detachments.

Khối lượng nội thất và tải trọng lớn hơn so với một số tàu khu trục và đủ để phục vụ như là một vận chuyển cao tốc độ và nền tảng cơ động. Bay nhiệm vụ là 15.200 feet vuông (1.410 m2), và chiếm hầu hết các sàn tầng dưới nhà chứa máy bay và chuyến bay.

Ngoài ra hàng hoá hoặc các mô-đun nhiệm vụ kích thước container, vịnh có thể thực hiện bốn làn Strykers nhiều, bọc thép Humvees, và quân đội của họ liên quan. Thang máy cho phép vận chuyển hàng không của các gói kích thước của một container 20-foot-dài vận chuyển (6,1 m) có thể được di chuyển vào vịnh nhiệm vụ trong khi trên biển. Một đoạn đường nối truy cập bên cho phép xe tải roll-on/roll-off một dock và cho phép tàu để vận chuyển các xe chữa cháy viễn chinh.

Các khu vực habitability nằm dưới cây cầu, nơi giường ngủ cho nhân viên tàu nằm. Chèo lái được điều khiển bằng cần điều khiển thay vì tay lái truyền thống.

Độc lập cũng có một Mast LOS tích hợp, Sea Hươu cao cổ 3D Radar và Seastar Safire FLIR. Bên và phía trước bề mặt góc cạnh cho cấu hình radar giảm. Ngoài ra, máy bay trực thăng loạt H-60 cung cấp không vận, cứu nạn, chống tàu ngầm, vừa phải radar và chống tàu với khả năng ngư lôi và tên lửa.

SeaRAM tên lửa hệ thống phòng thủ Raytheon Evolved được cài đặt trên mái nhà chứa máy bay. SeaRAM kết hợp các cảm biến của 1B Phalanx chặt chẽ trong hệ thống vũ khí với một phóng 11 tên lửa cho tên lửa khung máy bay du (RAM), tạo ra một hệ thống tự trị.

Sơ đồ cấu tạo

Sơ đồ cấu tạo

Northrop Grumman đã chứng minh phản ứng tổng hợp cảm biến của trên và off-hệ thống trong hệ thống quản lý tích hợp chống (ICMS) được sử dụng trên “Độc lập”.

Độc lập có một Trung tâm Truyền thông nội thất có thể được curtained khỏi phần còn lại của cây cầu thay vì Trung tâm Thông tin rất nhiều bảo vệ chống được tìm thấy trên tàu chiến.

Tuyên bố Austal Độc lập sẽ sử dụng ít nhiên liệu thứ ba hơn Tự do, nhưng các Văn phòng Ngân sách Quốc hội thấy rằng nhiên liệu sẽ chiếm 18% hoặc ít hơn tổng chi phí cuộc đời của Tự do. Trong khi nó không thể đánh giá việc sử dụng nhiên liệu độc lập, mức giá mua cao hơn độc lập sẽ chiếm ưu thế chi phí cuộc đời của mình.

Hợp đồng HistoryThe được trao cho General Dynamics trong tháng 7 năm 2003. Hợp đồng xây dựng của cô sau đó đã được trao cho Austal USA Mobile, Alabama, ngày 14 tháng Mười năm 2005 và keel của cô được đặt xuống vào ngày 19 tháng 1, 2006. Giao hàng tận nơi Hải quân Hoa Kỳ đã được lên kế hoạch cho tháng 12 năm 2008.

Kế hoạch ban đầu thứ hai General Dynamics tàu (LCS-4) đã bị hủy bỏ vào ngày 01 tháng 11 năm 2007. Vào ngày 01 tháng 5 năm 2009, một tàu thứ hai đã được sắp xếp lại bởi Hải quân, Coronado (LCS-4). Keel được đặt vào ngày 17 tháng 12, 2009, với giao hàng dự kiến tháng 5 năm 2012.

Hải quân hiện kế hoạch một quá trình đấu thầu mới với ngân sách năm 2010 giữa Lockheed Martin và General Dynamics cho ba tàu chiến duyên hải tiếp theo, với người chiến thắng xây dựng hai tàu và kẻ thua cuộc chỉ có một. Độc lập USS christened ngày 05 tháng 10 2008 Doreen Scott, vợ của Cán bộ trưởng Thạc sĩ 10 Petty của Terry Hải quân D. Scott.

Austal đã đề xuất một trimaran nhỏ hơn nhiều và chậm hơn, được gọi là tàu Multi-Vai trò Vai trò Multi-Corvette. Mặc dù nó chỉ là một nửa kích thước của thiết kế LCS của họ, nó vẫn sẽ hữu ích cho bảo vệ biên giới và các hoạt động vi phạm bản quyền truy cập. Hải quân các nhà lãnh đạo nói rằng cạnh tranh về giá cố định được cung cấp thiết kế Austal bắn bằng, mặc dù kích thước dư thừa của nó và chi phí và dịch vụ hạn chế.

Sự phát triển và xây dựng độc lập tháng 6 năm 2009 đang chạy ở 220% so với ngân sách. Tổng chi phí dự kiến cho con tàu là $ 704,000,000. Hải quân đã dự kiến ban đầu chi phí $ 220,000,000. Độc lập bắt đầu thử nghiệm xây dựng gần Mobile, Alabama vào ngày 2 tháng 7 năm 2009, ba ngày so với kế hoạch bởi vì vấn đề bảo trì.

Để đối phó với vấn đề với các nhà máy đẩy, tàu có kinh nghiệm một rò rỉ trong các con dấu khí trục cổng tua-bin, General Dynamics resequenced các của xây dựng thử nghiệm để thử nghiệm các hệ thống khác cho đến khi này đã được cố định. Con tàu hoàn thành thử nghiệm xây dựng ngày 21 tháng 10 năm 2009. và thử nghiệm nghiệm thu vào ngày 19 Tháng 11 2009

Ngày 9 tháng 12 năm 2009, Hải quân đã thông báo rằng con tàu đã hoàn thành kiểm tra đầu tiên INSURV của nó. Việc kiểm tra phát hiện 2.080 sự khác biệt, trong đó có 39 thiếu hụt ưu tiên cao, nhưng kết luận rằng tất cả có thể được giải quyết trước khi Hải quân chấp nhận tàu như dự kiến. Con tàu đã được giao cho Hải quân vào ngày 17 tháng 12 2009. Ngày 18 tháng 12, Hải quân đã chính thức chấp nhận quyền giám hộ của con tàu.

Tàu được đưa vào ngày 16 tháng 1 2010 ở Mobile, Alabama và hoàn thành chuyến con gái của bà trong tháng 4 năm 2010.

Trong năm 2010, Hải quân đã yêu cầu thêm 5,3 triệu USD để sửa chữa các vấn đề tìm thấy trong các thử nghiệm trên biển.

Năm 2011, các vấn đề ăn mòn đã được tìm thấy được thậm chí còn tồi tệ hơn dự kiến và sửa chữa sẽ đòi hỏi thời gian trong một đà hoàn toàn loại bỏ các máy bay phản lực nước. Trong phản ứng Austal đổ lỗi cho Hải quân Mỹ không được duy trì tàu. Sau đó Austal cho biết họ đã tìm thấy một sửa chữa cho vấn đề đó sẽ được thử nghiệm trên con tàu thứ ba LCS Austal.

Ăn mòn Galvanic là một vấn đề gặp phải trên các tàu hải quân ít nhất là kể từ khi các tàu chiến sắt vỏ đầu tiên, các tàu sân bay USS Michigan vào năm 1844, và có thể dễ dàng quản lý thông qua bảo trì thường xuyên và bảo vệ ca-tốt hy sinh. Trong trường hợp của Dynamics Austal Tổng LCS-2, mạ ăn mòn gây ra bởi một vỏ nhôm tiếp xúc với hệ thống nhà thép không gỉ đẩy sự hiện diện của nước biển, chưa kể đến các dòng điện khác chưa hoàn toàn bị cô lập, cần phải có được một cách dễ dàng dự đoán và ngăn chặn. Kinh phí cho một hệ thống bảo vệ ca-tốt về thiết kế tàu chiến này dường như đã bị xóa, nhưng một thông cáo báo chí từ Ủy ban Quân vụ liên quan đến đánh dấu Đạo luật của Quốc FY12 Quốc phòng ủy quyền của Thượng viện Mỹ sẽ xuất hiện để khôi phục lại một số tài trợ.

Bảy vị Thượng nghị sĩ Nhà nước đã gửi một bức thư cho Bộ Quốc phòng đặt câu hỏi về quản lý trong những vấn đề ăn mòn độc lập.

Trong tháng 7 năm 2011, Hải quân Public Information Officer Christopher G. Johnson cho rằng một “hệ thống bảo vệ ca-tốt” sẽ được cài đặt trên tàu.

(lược dịch tư liệu nước ngoài)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

VIỆT NAM QUA MÀN ẢNH NHỎ

Việt Nam là đất nước dài và rộng. Chiều dài của đường bộ và bề rộng của biển cả bao la,… Đó là yếu tô làm nên một Việt Nam vẻ đẹp tiềm ẩn và cần được khai lộ, để Việt Nam thêm giàu mạnh và vững bền.

TÀI NGUYÊN BIỂN VIỆT NAM

Việt Nam có một dải bờ biển tuyệt vời dọc theo chiều dài đất nước.

Việt Nam đang có hơn 3.000 km bờ biển với vô vàn tài nguyên biển phong phú. Biển Việt Nam được công nhận là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển, 20 vùng biển giàu hải sản trên thế giới. Các nhà sinh vật học phát hiện tại vùng biển Việt Nam có tới 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau…

Chưa kể thiên nhiên ưu đãi cho chúng ta có những vịnh nằm trong những vịnh đẹp nhất thế giới như: Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang; những vịnh có vẻ đẹp hoang sơ đang được khám phá như Vĩnh Hy (Ninh Thuận), Vịnh Vân Phong; có những bãi biển tuyệt đẹp ở khắp chiều dài đất nước: Nha Trang, Mỹ Khê (Đà Nẵng), Phú Quốc, Trà Cổ (Quảng Ninh), Thiên Cầm, Nhật Lệ, Cửa Tùng, Lăng Cô, Đại Lãnh (Vịnh Vân Phong), Mũi Né, Vũng Tàu… Tất cả tạo cho chúng ta một lợi thế về du lịch biển mà không phải nước nào cũng có.

Việt Nam đang thúc đẩy chiến lược đưa Việt Nam thành một quốc gia mạnh về biển.

VỊNH HẠ LONG

Vịnh Hạ Long (vịnh nơi rồng đáp xuống) là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố Hạ Long, Thành phố Cẩm Phả, thành phố Hải Phòng và một phần của huyện đảo Vân Đồn.

Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa, với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553km² bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của Vịnh có diện tích 334km² quần tụ dày đặc 775 hòn đảo. Lịch sử kiến tạo địa chất đá vôi của Vịnh đã trải qua khoảng 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau; và quá trình tiến hóa carxtơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm với sự kết hợp các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và tiến trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Sự kết hợp của môi trường, khí hậu, địa chất, địa mạo, đã khiến vịnh Hạ Long trở thành quần tụ của đa dạng sinh học bao gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển và ven bờ với nhiều tiểu hệ sinh thái. 14 loài thực vật đặc hữu và khoảng 60 loài động vật đặc hữu đã được phát hiện trong số hàng ngàn động, thực vật quần cư tại Vịnh.

Những kết quả nghiên cứu, thám sát khảo cổ học và văn hóa học cho thấy sự hiện diện của những cư dân tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long từ khá sớm, đã tạo lập những hình thái văn hóa cổ đại tiếp nối nhau bao gồm văn hóa Soi Nhụ trong khoảng 18.000-7.000 năm trước Công Nguyên, văn hóa Cái Bèo trong 7.000-5.000 năm trước Công Nguyên và văn hóa Hạ Long cách ngày nay khoảng từ 3.500-5.000 năm. Tiến trình dựng nước và truyền thống giữ nước của dân tộc Việt Nam, trong suốt hành trình lịch sử, cũng khẳng định vị trí tiền tiêu và vị thế văn hóa của vịnh Hạ Long qua những địa danh mà tên gọi gắn với điển tích còn lưu truyền đến nay, như núi Bài Thơ, hang Đầu Gỗ, Bãi Cháyv.v. Hiện nay, vịnh Hạ Long là một khu vực phát triển năng động nhờ những điều kiện và lợi thế sẵn có như có một tiềm năng lớn về du lịch, nghiên cứu khoa học, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, giao thông thủy đối với khu vực vùng biển Đông Bắc Việt Nam nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung.

Từ hơn 500 năm về trước trong bài thơ Lộ nhập Vân Đồn, Nguyễn Trãi đã lần đầu tiên ca ngợi vịnh Hạ Long là “kỳ quan đá dựng giữa trời cao”. Năm 1962 Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam đã xếp hạng vịnh Hạ Long là di tích danh thắng cấp quốc gia đồng thời quy hoạch vùng bảo vệ. Năm 1994 vùng lõi của vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới với giá trị thẩm mỹ (tiêu chuẩn VII), và được tái công nhận lần thứ 2 với giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất – địa mạo (tiêu chuẩn VIII) vào năm 2000. Cùng với vịnh Nha Trang và vịnh Lăng Cô của Việt Nam, vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được Câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2003.

Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà tạo thành 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam

CÁC CHÙA Ở HƯƠNG SƠN

Hương Sơn là một xã nằm ở phía nam huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Tại đây có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co. Trên núi và trong các hang, người ta đã cho xây dựng nhiều đền chùa mà trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích. Hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực này dựa theo những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng 6 km².

Hương Sơn được đặt theo tên một vùng đất Phía Bắc Tuyết Sơn  Himalaya (Ấn Độ), tương truyền đây là nơi đức Phật tu khổ hạnh 6 năm ròng.

Thời Lê Thánh Tông(1460-1497), các chùa ở Hương Sơn đã được xây dựng và phát triển. Các ngôi chùa chính được xây dựng với quy mô lớn vào khoảng cuối thế kỷ 17. Cho đến đầu thế kỷ 20, trong khu vực này đã có hơn 100 ngôi chùa.

Để tham quan các chùa ở Hương Sơn, người hành hương thường đi theo các tuyến đường khác nhau. Tuyến đi chính là đi từ Bến Đục, nằm bên bờ sông Đáy. Từ Bến Đục, khách đi bộ gần 1 km sẽ đến Bến Yến để lên thuyền xuôi theo một dòng suối có tên là suối Yến đến bến Trò (bến Thiên Trù).

Ngoài ra, có thể đi theo con đường bộ ven chân núi(nhưng ngày nay đã không đi được nữa). Trên đường từ bến Yến vào Bến Trò, người ta có thể dừng chân tại đền Trình (có nghĩa là nơi “trình diện” với thần linh trước khi đến cõi Phật) trên núi Ngũ Nhạc. Đây là đền thờ một vị thần núi. Đền còn có tên Quan Lớn, thờ một bộ tướng của vua Hùng.

Từ Bến Trò đi bộ lên chùa Trò, tức chùa Thiên Trù (có nghĩa là Bếp Trời), còn được gọi là chùa Ngoài. Từ bến vào chùa có một nhà bia, trong có tấm bia “Thiên Trù tự bi ký” dựng năm Chính Hòa thứ 7, ghi lại những hoạt động tu sửa chùa Thiên Trù và chùa Hương Tích của nhà sư Viên Quang.

Ngày xưa, chùa được xây khuất trong bốn vách núi, có đến vài chục gian, nhưng đã bị tàn phá trong chiến tranh. Nam Thiên môn được xây dựng dưới triều vua Gia Long (1809) cũng bị phá hủy.

Gần chùa Thiên Trù là núi Tiên, có chùa Tiên trong hang. Trong chùa có 5 pho tượng bằng đá do những người thợ đá ở Kiện Khê (Hà Nam) tạc năm 1907 dựa theo truyền thuyết Bà Chúa Ba Diệu Thiện đã đắc đạo thành Quan Thế Âm Bồ Tát ở Hương Sơn. Tượng Bà Chúa Ba ở giữa, phía trước là người chị cả Diệu Thanh cưỡi sư tử xanh (Văn Thù Bồ Tát và tượng người chị thứ hai Diệu Âm cưỡi voi trắng (Phổ Hiền Bồ Tát). Phía sau là tượng vua cha và hoàng hậu mẹ của Bà Chúa Ba.

Từ chùa Thiên Trù, theo đường núi quanh co đi khoảng 2 km thì đến chùa Hương còn gọi là chùa Trong. Từ chùa Thiên Trù còn có lối rẽ qua rừng mơ, đến chùa Hinh Bồng. Ngoài ra còn có thể đi theo suối Tuyết vào đền Mẫu Hạ rồi đến núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng, hòn Đầu Sư Tử, vách đá Kỳ Sơn Tú Thủy và sau đó đến bến Tuyết Sơn vào chùa Bảo Đài. Trong chùa còn giữ được một pho tượng Cửu Long bằng đồng rất đẹp. Từ chùa Bảo Đài, theo một con đường phẳng đến chùa Tuyết trong Ngọc Long động. Chùa Tuyết do một bà quận chúa thời Trịnh dựng vào năm 1694. Ở đây còn có phù điêu chân dung bà tạc vào vách động. Nơi đây, vào năm 1770, Trịnh Sâm có làm bài thơ “Đăng Tuyết sơn hữu hứng”.

Hội chùa Hương Sơn là hội chùa kéo dài nhất ở Việt Nam trong suốt ba tháng sau Tết Nguyên Đán.

Ca dao đã miêu tả:

Một vùng non nước bao la

Rằng đây Lạc quốc hay là Đào nguyên

Hương Sơn là chốn non tiên

Bồng lai mà thấy ở miền trần gian.

HUYỆN THỌ XUÂN VÀ CÁC DI TÍCH HAI TRIỀU VUA LÊ

Thọ Xuân là một huyện của tỉnh Thanh Hóa. Nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hoá, Thọ Xuân là vùng đất “địa linh nhân kiệt” có vị thế chiến lược trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Huyện lỵ Thọ Xuân – trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá – cách thành phố Thanh Hoá (đi theo quốc lộ 47) 36 km về phía tây và nằm ngay bên hữu ngạn sông Chu – con sông lớn thứ hai của Thanh Hoá, hàm chứa nhiều huyền thoại đẹp về lịch sử, văn hoá…

Huyện Thọ Xuân có diện tích tự nhiên 295,885 km², dân số năm 2009 là 233.752 người.
Phía đông giáp huyện Thiệu Hóa, phía đông nam và phía nam giáp huyện Triệu Sơn, phía tây nam giáp huyện Thường Xuân, phía tây bắc giáp huyện Ngọc Lặc, phía đông bắc giáp huyện Yên Định.

Thọ Xuân là một huyện bán sơn địa, trên địa bàn huyện có sông Chu chảy theo hướng từ tây sang đông.

Huyện có 3 thị trấn là thị trấn huyện lỵ Thọ Xuân, thị trấn Sao Vàng, thị trấn Lam Sơn, cùng với 38 xã: Bắc Lương, Hạnh Phúc, Nam Giang, Phú Yên, Quảng Phú, Tây Hồ, Thọ Diên, Thọ Hải, Thọ Lâm, Thọ Lập, Thọ Lộc, Thọ Minh, Thọ Nguyên, Thọ Thắng, Thọ Trường, Thọ Xương, Xuân Bái, Xuân Châu, Xuân Giang, Xuân Hòa, Xuân Hưng, Xuân Khánh, Xuân Lai, Xuân Lam, Xuân Lập, Xuân Minh, Xuân Phong, Xuân Phú, Xuân Quang, Xuân Sơn, Xuân Tân, Xuân Thành, Xuân Thắng, Xuân Thiên, Xuân Tín, Xuân Trường, Xuân Vinh, Xuân Yên.

Thời thuộc Hán (năm 111 trước công nguyên đến năm 210 sau công nguyên), vùng đất Thọ Xuân thuộc huyện Tư Phố; từ năm 581 đến năm 905 thuộc huyện Di Phong, và sau đó thuộc huyện Trường Lâm.

Thời Trần, Thọ Xuân thuộc huyện Cổ Lôi. Từ năm 1466, Thọ Xuân có tên là Lôi Dương. Ðến thế kỷ XV, Thọ Xuân là căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn. Thọ Xuân là nơi sinh dưỡng nhiều vị vua sáng tôi hiền như: Lê Ðại Hành, Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông; Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn Linh, Trịnh Khắc Phục,…

Thời Nguyễn năm 1826, huyện Lôi Dương hợp với huyện Thụy Nguyên thành phủ Thọ Xuân. Lỵ sở phủ Thọ Xuân trước năm 1895 đóng ở Thịnh Mỹ (nay thuộc xã Thọ Diên), sau dời về Xuân Phố (Xuân Trường ngày nay). Thọ Xuân cũng là căn cứ chống Pháp vào thời kỳ phong trào Cần Vương.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, bỏ phủ Thọ Xuân, đổi huyện Lôi Dương thành huyện Thọ Xuân.

Tháng 12 năm 1964, một phần huyện Thọ Xuân được tách ra để sáp nhập với một phần huyện Nông Cống để thành lập huyện Triệu Sơn.

Di tích lịch sử kiến trúc Lê Hoàn tại xã Xuân Lập, gồm: đền thờ, lăng Hoàng Khảo, lăng Quốc Mẫu, lăng bố nuôi Lê Ðột và đền sinh thánh.

Khu di tích lịch sử Lam Kinh (xã Xuân Lam và thị trấn Lam Sơn) gồm: đền thờ Lê Thái Tổ, cung điện, lăng bia các vua và hoàng hậu nhà Lê.

Ðền thờ và lăng mộ Thứ quốc công Nguyễn Nhữ Lãm (tại xã Thọ Diên và Xuân Lập).

Quần thể di tích cách mạng xã Xuân Hoà, Thọ Xuân.

Quần thể di tích lịch sử cách mạng xã Xuân Minh huyện Thọ Xuân.

Ngoài ra, Thọ Xuân còn nhiều di tích được xếp hạng cấp tỉnh như: đền thờ khắc Quốc công Lê Văn An (làng Diên Hào – xã Thọ Lâm), đền thờ Quốc Mẫu (làng Thịnh Mỹ – xã Thọ Diên). ở Thọ Xuân mới phát hiện đền thờ của vua Dụ Tông (làng mạnh chư-xã xuân phong)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NAM BỘ

Năm 1698, Nguyễn Phước Chu – tức chúa Minh – sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (thường đọc là Cảnh) vào Nam kinh lý và lập phủ Gia Định. Nhưng trước đó, có lẽ hàng thế kỷ, nhiều sử liệu cho thấy người Việt Nam đã tới buôn bán và khẩn hoang lập ấp rải rác trong đồng bằng sông Mê Kông ở châu thổ miền Nam và sông Mê Nam bên Xiêm rồi. 

Làng quê miền Nam

Làng quê miền Nam

Biên niên sử Khơ Me chép: Năm 1618, vua Chey Chettha II lên ngôi. Ngài liền cho xây cung điện nguy nga tại U Đông, rồi cử hành lễ cưới trọng thể với một công chúa Việt Nam rất xinh đẹp con chúa Nguyễn (người ta phỏng đoán đó là công nữ Ngọc Vạn con chúa Sãi, Nguyễn Phước Nguyên). Hoàng hậu Sam Đát Việt Nam cho đem nhiều người đồng hương tới Campuchia, có người được làm quan lớn trong triều, có người làm các nghề thủ công và có người buôn bán hay vận chuyển hàng hóa.

Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng cũng là địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam đi Campuchia và Xiêm La. Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành thị tứ trên bến dưới thuyền, công nghiệp và thương nghiệp sầm uất.

Giáo sĩ Ý tên Christoforo Borri sống tại thị trấn Nước Mặn gần Qui Nhơn từ năm 1681 đến năm 1622, viết hồi ký “Chúa Nguyễn phải chuyên lo việc tập trận và gởi quân sang giúp vua Campuchia – cũng là chàng rể lấy con gái hoang của chúa! Chúa viện trợ cho vua cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại vua Xiêm”. Borri cũng tả khá tỉ mỉ về sứ bộ của chúa Nguyễn đi Campuchia hồi 1620: “Sứ thần là người sinh trưởng tại Nước Mặn, một nhân vật quan trọng đứng sau chức tổng trấn. Trước khi lên đường, ông đã để nhiều ngày giờ bàn bạc và nhận lệnh của chúa. Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh U Đông, thì dân chúng Khơ Me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh. Vì sứ thần đây là người quan thuộc, đã lui tới nhiều lần, từng làm đại diện thường trú từ lâu, chứ không phải sứ giả mới tới lần đầu. Borri còn cho biết tòa sứ bộ khá quan trọng và đông đúc, nào là thê thiếp, người hầu kẻ hạ của sứ thần, nào binh sĩ giữ an ninh và phục dịch sứ bộ.

Một giáo sĩ khác người Pháp tên là Chevreuil tới thăm Colompé (tức Phnom Penh, Nam Vang) hồi 1665 đã thấy “hai làng An Nam nằm bên kia sông, cộng số người được độ 500 mà kẻ theo đạo Công giáo chỉ có 4 hay 5 chục người”. Ngoài Nam Vang, tại các nơi khác cũng có nhiều người Việt Nam sinh sống, ở thôn quê thì làm ruộng, gần phố thì buôn bán, làm thủ công hay chuyên chở ghe thuyền, kể hàng mấy ngàn người. Như ở Đất Đỏ, Bà Rịa, Bến Cá, Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên, v.v…

Ngoài đồng bằng sông Mê Kông, người Việt Nam còn đến làm ăn và định cư rải rác trong đồng bằng sông Mê Nam. Lịch sử cho biết: dân tộc Thái mới lập quốc từ thế kỷ VII sau công nguyên ở giữa bán đảo Đông Dương và chủ yếu trên lưu vực sông Mê Nam. Nước này gọi là Xiêm hay Xiêm La (Siam), đến năm 1939 mới đổi tên là Thái Lan.

Kinh đô Xiêm xưa ở Ayuthia, xây dựng từ năm 150 trên một khúc quanh của sông Mê Nam cách biển gần 100 km. Theo bản đồ Loubère vẽ năm 1687, thì kinh đô Ayuthia nằm trong một hòn đảo lớn, giữa hai nhánh sông Mê Nam. Đường sá, cầu cống, phố chợ, lâu đài… được ghi khá rõ ràng. lại có thêm chú chích minh bạch như: A=Thành phố, B=cung điện, C=bến cảng, D=xưởng thủy hải quân, E=xưởng thủy ghe thuyền, F=phố thị, G=chủng viện…

Chung quanh hòn đảo chính có những khu vực dành riêng cho dân Xiêm hay người nước ngoài cư trú: người Xiêm ở phía Bắc và Tây Bắc, người Hoa ở phía Đông, người Việt Nam, Mã Lai, Nhật Bản, Hòa Lan, Bồ Đào Nha ở phía Nam. Nơi người Việt ở cũng là một cù lao khá rộng, qua sông là tới phố thị kinh đô, việc đi lại giao dịch rất thuận lợi. Nhìn cách bố trí thôn trại chung quanh Ayuthia, ta có thể phỏng đoán cộng đồng người Việt ở đây khá đông và là một trong mấy nhóm ngoại quốc tới lập nghiệp sớm nhất.

Trên bản đồ có ghi rõ chữ  Cochinchinois nơi thôn trại Việt. Đương thời, địa danh này chỉ người Đàng Trong và cũng có thể chỉ chung người VIệt Nam, vì trước đó – trong thời gian chưa có phân ranh Trịnh Nguyễn, Tây phương dùng địa danh ấy, biến dạng bởi Giao Chỉ – Cauchi – Cauchinchina – Cochinchine để gọi chung Việt Nam (có nghĩa Cochin ở gần Trung Hoa , nhằm phân biệt với Cochin ở Ấn Độ). Đa số người Việt ở đây là người Đàng Trong, song cũng có người Đàng Ngoài. Họ tới định cư và lập nghiệp có lẽ từ thế kỷ XVI hay đầu thế kỷ XVII rồi, nghĩa là từ thời nhà Mạc khi trong nước rất xáo trộn là loạn ly. Theo ký sự của Vachet thì có cả nam nữ già trẻ. Ngoài Ayuthia, người Việt còn tới làm ăn định cư tại Chân Bôn (Chantaburi) và Bangkok là những thương điếm trung chuyển từ Hà Tiên tới kinh đô Xiêm.

Trẻ trăn trâu

Trẻ trăn trâu

Sử Việt Nam và sử Khơ Me cùng nhất trí ghi sự kiện: Năm 1674, Nặc Ong Đài đánh đuổi vua Nặc Ong Nộn. Nộn chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa liền sai thống suất Nguyễn Dương Lâm đem binh đi tiến thảo, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ong Thu làm Cao Miên quốc vương đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ong Nộn làm phó vương.

Sử ta còn ghi rõ: năm 1679, chúa Nguyễn Phước Tần tức Hiền Vương cho “nhóm người Hoa” muốn “phục Minh chống Thanh” là Dương Ngạn Địch tới Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên tới Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn và làm ăn sinh sống. Những nơi đó đã có người Việt tới sinh cơ lập nghiệp từ lâu. Như Trịnh Hoài Đức đã chép: các chúa Nguyễn “chưa rảnh mưu tính việc ở xa nên phải tạm để đất ấy cho cư dân bản địa ở, nối đời làm phiên thuộc ở miền Nam, cống hiến luôn luôn”. Nhưng năm 1658, “Nặc Ong Chân phạm biên cảnh”, Hiền Vương liền sai “phó tướng Tôn Thất Yên đem ngàn binh đi 2 tuần đến thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá kinh thành và bắt được vua nước ấy”. Sau được tha tội và được phong làm Cao Miên quốc vương “giữ đạo phiên thần, lo bề cống hiến, không xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên cương. Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lưu dân của nước ta đến ở chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất”. Như vậy là từ trước 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc “biên cảnh” của Việt Nam.

Bốn mươi năm sau (tức 1698), chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Kính vào “kinh lý” miền Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh – khi ấy “đất đai đã mở rộng khắp miền đông Nam Bộ nay. Trên cơ sở lưu dân Việt Nam tự phát tới “khẩn hoang lập ấp”, Nguyễn Hữu Kính đã lập phủ Gia Định và 2 huyện Phước Long, Tân Bình (một phần nay là TPHCM). Đúng là dân làng đi trước, nhà nước đến sau. Và miền biên cảnh Nam Bộ sáp nhập vào cương vực Việt Nam một cách thật êm thắm và hòa hợp dân tộc vậy.

(sưu tầm)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU BÀI VIẾT | Tags: | Để lại bình luận
 
 

HÌNH ẢNH VIỆT NAM XƯA QUA GÓC CHỤP NHIẾP ẢNH PHƯƠNG TÂY

Đây là những bức hình màu được cho là hình ảnh được chụp và những năm 1915. Thông qua những hình ảnh đấy ta thấy được phần nào xã hội con người Việt Nam thời kỳ phong kiến suy tàn trong lòng xã hội thuộc địa của Pháp…

Thiếu nữ và bàn đèn thuốc phiện

Thiếu nữ và bàn đèn thuốc phiện

Hai con nghiện.

Hai con nghiện.

Hình như đây là phố Tràng Tiền, góc chụp nhìn từ hướng Nhà hát Lớn:

Hình như đây là phố Tràng Tiền, góc chụp nhìn từ hướng Nhà hát Lớn

Một phố Hà Nội, hè 1915

Một phố Hà Nội, hè 1915

Một góc phố buôn bán Hà Nội

Một góc phố buôn bán Hà Nội

cảnh trên bến dưới thuyền Hà Nội

cảnh trên bến dưới thuyền Hà Nội

Nhà nổi Hà Nội ?

Nhà nổi Hà Nội ?

Cầu Long Biên, hồi đó còn là cầu Pôn Đu-me:

Cầu Long Biên, hồi đó còn là cầu Pôn Đu-me

Cầu Long Biên,nhìn từ xa

Cầu Long Biên,nhìn từ xa

Một thầy hát lên đồng chúa Liễu Hạnh. (Đạo thờ Mẫu)

Một thầy hát lên đồng chúa Liễu Hạnh. (Đạo thờ Mẫu)

gia đình một đại quan bắc Kì

gia đình một đại quan bắc Kì

Một góc Hải Phòng

Một góc Hải Phòng

Hạ Long .

Hạ Long .

Thiếu nữ thả hồn chốn cửa Vịnh ( Hạ Long )

Thiếu nữ thả hồn chốn cửa Vịnh ( Hạ Long )

Đường quê

Đường quê

Chợ quê

Chợ quê

quan lại

quan lại

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU HÌNH ẢNH | Tags: | Để lại bình luận
 
 

VOVINAM – VIỆT VÕ ĐẠO

 

Vovinam (hay còn gọi là Việt Võ Đạo) là môn võ được võ sư Nguyễn Lộc sáng lập vào năm 1936 nhưng lúc này hoạt động âm thầm, đến 1938 mới đem ra công khai đồng thời ông đề ra chủ thuyết “cách mạng tâm thân” để thúc đẩy môn sinh luôn luôn canh tân bản thân, và hướng thiện về thể chất lẫn tinh thần.

Vovinam là cách viết tắt của cụm từ “Võ Việt Nam” để dễ đọc. Bên cạnh việc tập luyện võ thuật, binh khí, các võ sinh còn tập luyện nhuyễn công, khí công và coi trọng việc trau dồi nhân tính. Vovinam có đòn bay cao kẹp cổ nổi tiếng, luôn có mặt trong các buổi biểu diễn.

Trong các môn võ của Việt Nam, Vovinam được phát triển qui mô và rộng lớn nhất với nhiều môn sinh ở nhiều nơi trên thế giới như Ba Lan, Bỉ, Campuchia, Đan Mạch, Đức, Hoa Kỳ, Maroc, Na Uy, Nga, Pháp, Romania, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Singapore, Uzbekistan, Thái Lan, Ý, Úc

Người sáng lập Vovinam là võ sư Nguyễn Lộc.

Năm 1938, võ sư Nguyễn Lộc giới thiệu Vovinam ra công chúng.

Năm 1960, võ sư Nguyễn Lộc mất.

Từ 1960, võ sư Lê Sáng tiếp nhận chức Chưởng Môn môn phái và chịu trách nhiệm phát triển và quảng bá rộng rãi Vovinam ra toàn thế giới. Ở Pháp giáo sư Phan Hoàng có công gầy dựng nền móng phát triển Vovinam ở Âu châu kể từ thập niên 1970.

Trong khi đó ở miền Nam Việt Nam kể từ năm 1966 trở đi, môn Vovinam được đưa vào giảng dạy ở một số trường công lập thuộc nền Giáo dục Việt Nam Cộng hòa.

Tháng 10 năm 2007, Đại hội thành lập Liên đoàn Vovinam Việt Nam (VVF) diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 9 năm 2008, Đại hội thành lập Liên đoàn Vovinam Quốc tế (IVF) diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, sau đổi tên thành Liên đoàn Vovinam Thế giới (WVVF).

Tháng 2 năm 2009, Đại hội thành lập Liên đoàn Vovinam Châu Á (AVF) diễn ra tại Tehran.

Ngày 31 tháng 3 năm 2010, Chưởng Môn Lê Sáng ký quyết định thành lập Hội Đồng Võ Sư Chưởng Quản Môn Phái. Người đứng đầu hội đồng này được gọi dưới danh hiệu là Chánh Chưởng Quản và là người đứng đầu môn phái. Như vậy, danh xưng Chưởng Môn trong môn phái sẽ không còn dùng trong tương lai nữa. Kể từ đây, khi gọi Sáng Tổ Nguyễn Lộc, Chưởng Môn Lê Sáng thì đó là những danh hiệu riêng biệt, liên quan đến những thời kỳ đặc biệt của môn phái. Cũng kèm theo đó, võ sư Nguyễn Văn Chiếu được bổ nhiệm làm Chánh Chưởng Quản môn phái.

Ngày 27 tháng 9 năm 2010, võ sư Chưởng Môn Lê Sáng qua đời.

Ngày 16 tháng 10 năm 2010, Đại hội thành lập Liên đoàn Vovinam châu Âu (EVVF) diễn ra tại Paris.

Ngày 28 tháng 12 năm 2010, Đại hội thành lập Liên đoàn Vovinam Đông Nam Á (SEAVF) diễn ra tại Campuchia.

Năm 2011, Vovinam lần đầu tiên được đưa vào chương trình thi đấu chính thức tại SEA Games 26.

Võ thuật

Vovinam bao gồm phần võ thuật như những thế đấm, đá, gạt, đỡ, lao, gối, chỏ, vật, đòn chân,… và phần binh khí như việc sử dụng và chống đỡ kiếm, đao, côn, thương, dao găm, súng ngắn, súng trường,… Tiếp đó là việc luyện tập ngạnh công, nhuyễn công, khí công giúp dưỡng sinh và bảo tồn sức khỏe.

Đòn thế Vovinam được đưa vào hệ thống “Một phát triển thành Ba” nên tất cả các đòn thế được tập luyện từ thế căn bản (tấn công, phản đòn, khóa gỡ,…), qua đơn luyện (quyền pháp, chiến lược,…) và đến các dạng đa luyện (song luyện, đối luyện, tam đấu, tứ đấu,…). Võ thuật Vovinam đa dạng và thức thời, phù hợp với nhiều lứa tuổi.

Từ xưa đến nay Vovinam nổi tiếng với 3 đòn:

Chỏ (vì thế trong một số cuộc thi song đấu đối kháng Vovinam, môn sinh không được phép dùng chỏ, vì Vovinam dùng chỏ rất mạnh)

Chém quét (chém một bên, dùng chân đá quét chân đối phương bên kia khiến đối phương ngã)

Đòn chân kẹp cổ (dùng sức bật kết hợp hai chân kẹp cổ đối phương rồi quật xuống đất, kỹ thuật này nhanh và mạnh, kết hợp yếu tố bất ngờ khiến cho đối phương khó lòng chống đỡ)

Trong thời gian phong trào “Võ Thuật học đường” (1965), vì không đủ huấn luyện viên có rất nhiều huấn luyện viên của các môn phái võ nước ngoài và võ cổ truyền tham gia vào Vovinam. Họ đã mang nhiều kỹ thuật của các môn võ khác bổ sung vào Vovinam.

Ví dụ: Võ sư Nguyễn Hữu Nhạc của võ đường Sa Long Cương đã mang bài Long Hổ Quyền vào Vovinam. Đây là một trong những bài quyền được coi là rất đặc trưng của Vovinam.

Vì lý do nói trên, hệ thống kỹ thuật của Vovinam sau thời “Võ thuật học đường” đã khác một cách cơ bản so với hệ thống võ thuật do võ sư Nguyễn Lộc truyền dạy.

Võ đạo

Chủ thuyết “cách mạng tâm thân” là phần thực dụng của vũ trụ quan, nhân sinh quan của Việt Võ Đạo, nhưng không phải là triết học, và không bị ảnh hưởng của nhị nguyên luận. Chủ thuyết giáo dục người Việt mới, về tâm và thân. Đó không phải là lý thuyết, mà là ứng dụng thực tế vào mọi sinh hoạt võ học, với các định lý: tâm thân phối triển, cương nhu phối triển, tri hành phối triển, việt ngã, độ tha, và thăng hóa, cả tâm hồn và thân chất, để truyền thông, nghị lực mới với các thế hệ môn sinh kế tục, đòi hỏi tính kiên trì để học, hỏi, hiểu, và hành.

Môn sinh Vovinam luôn tự thực hiện cuộc “cách mạng Tâm Thân” để phát triển toàn diện về tâm, trí và thể. Ngoài việc luyện tập đòn thế để thân thể cường tráng, dẻo dai và khỏe mạnh, môn sinh Vovinam còn trau dồi một tâm hồn thanh cao, hiến ích, tự tin, can đảm, cao thượng, bất khuất và tính nhân bản theo lời dạy của võ sư Nguyễn Lộc “sống cho mình, giúp cho mọi người khác sống, sống cho mọi người”.

Võ đạo của Vovinam còn được xem như một nhân cách sống hay một triết lý làm người.

Mười điều tâm niệm

Đạt tới cao độ của nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại.

Trung kiên phát huy môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên Việt Võ Đạo.

Đồng tâm nhất trí, tôn kính người trên, thương mến đồng đạo.

Tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, nêu cao danh dự võ sĩ.

Tôn trọng các võ phái khác, chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải.

Chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần, trau dồi đạo hạnh.

Sống trong sạch, giản dị, trung thực và cao thượng.

Kiện toàn một ý chí đanh thép, thắng phục cường quyền và bạo lực.

Sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu, tháo vát hành động.

Tự tín, tự thắng, khiêm cung, độ lượng, luôn kiểm điểm để tiến bộ.

 

Mười điều tâm niệm (theo chương trình võ đạo mới)

Việt võ đạo sinh nguyện đạt tới cao độ của nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại.

Việt võ đạo sinh nguyện trung kiên phát huy môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên dấn thân hiến ích.

Việt võ đạo sinh đồng tâm nhất trí, tôn kính người trên, thương mến đồng đạo.

Việt võ đạo sinh tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, nêu cao danh dự võ sĩ.

Việt võ đạo sinh tôn trọng các võ phái khác, chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải.

Việt võ đạo sinh chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần, trau dồi đạo hạnh.

Việt võ đạo sinh sống trong sạch, giản dị, trung thực và cao thượng.

Việt võ đạo sinh kiện toàn một ý chí đanh thép, nỗ lực tự thân cầu tiến.

Việt võ đạo sinh sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu, tháo vát hành động.

Việt võ đạo sinh tự tín, tự thắng, khiêm cung, độ lượng, luôn luôn tự kiểm để tiến bộ.

 

Võ phục

Từ năm 1938 đến năm 1964, Vovinam không có võ phục chính thức của mình. Sau cuộc gặp mặt các võ sư Vovinam lần đầu tiên, tổ chức vào năm 1964, màu võ phục chính thức là màu lam. Tuy nhiên phân nhánh ly khai Việt Võ Đạo Federation dùng võ phục màu đen trong những năm 1973-1990. Từ năm 1990 cho đến nay, võ phục Vovinam trên toàn thế giới dùng thống nhất màu lam.

Các loại đai đẳng

Tự vệ nhập môn: Có hai cấp là tự vệ Việt Võ Ðạo (đai xanh màu da trời) và Nhập môn VVÐ (Ðai xanh dương đậm), thời gian luyện tập mỗi cấp là 3 tháng. Danh xưng: võ sinh

Lam đai: Ðai xanh dương đậm có gạch vàng, ba cấp, mỗi cấp tập luyện: 6 tháng Danh xưng: môn sinh.

Huyền đai: Đai đen (người dưới 15 tuổi có chỉ vàng dọc theo đai) 1 cấp, thời gian tập luyện 1 năm; tương đương đẳng cấp quốc tế: huyền đai.

Hoàng đai: Ðai vàng có gạch đỏ, ba cấp, mỗi cấp luyện tập 2 năm. Danh xưng: huấn luyện viên cấp I, huấn luyện viên cao cấp, võ sư trợ huấn; tương đương đẳng cấp quốc tế: huyền đai đệ nhất đẳng, huyền đai đệ nhị đẳng, huyền đai đệ tam đẳng.

Chuẩn hồng đai: Ðai đỏ có 2 viền vàng, một cấp, luyện tập 3 năm và trình tiểu luận võ học khi thi thăng cấp Hồng đai. Danh xưng: võ sư chuẩn cao đẳng; tương dương đẳng cấp quốc tế: huyền đai đệ tứ đẳng

Hồng đai: Ðai đỏ có vạch trắng, sáu cấp, mỗi cấp luyện tập 4 năm và trình luận án võ học khi thi thăng cấp, danh xưng: võ sư cao đẳng hồng đai đệ thất, nhị, tam,… cấp; tương dương đẳng cấp quốc tế: huyền đai đệ ngũ, lục đẳng,…

Bạch đai: Ðai trắng có 4 chỉ tứ sắc xanh, đen, vàng, đỏ, có 1 cấp, thời gian luyện tập: vô định. Ðây là đai cao nhất dành riêng cho võ sư Chưởng Môn môn phái.

Ý nghĩa màu đai

Hiện tại, các màu đai có ý nghĩa như sau:

Xanh lam: Biểu hiện cho hy vọng.

Đen: Màu của nước. Với ý nghĩa võ thuật và võ đạo đã chuyển thành bản thể.

Vàng: Màu của đất. Với ý nghĩa võ thuật và võ đạo đã trở nên vững chắc như đất.

Đỏ: Màu của lửa. Với ý nghĩa võ thuật và võ đạo đã bốc cao như lửa.

Trắng: Màu của sự thanh khiết. Với ý nghĩa võ thuật và võ đạo đã trở nên cao độ, chân tịnh, thiêng liêng nhất. Chỉ dành cho trưởng môn của môn phái.

Nhưng lúc xưa, ý nghĩa các màu đai không phải như vậy, do thời thế mà đã đổi thành như trên, việc này sẽ bàn thêm ở dưới.

Và đến giờ vẫn còn nhiều người đồng ý với quan niệm lúc xưa. Rằng:

Xanh lam: Biểu thị cho hy vọng. Giống hiện nay.

Đen: Khi xưa không có màu đen cho đai. Nhưng từ khi Vovinam chính thức ra với quốc tế, nên các võ sư đã thống nhất cho thêm màu đai đen để có một cấp bậc tương đương với đẳng cấp quốc tế. Nghĩa là môn sinh mang đai đen Vovinam sẽ tương đương đẳng cấp với các môn sinh đai đen của các võ phái khác đã được quốc tế hóa (như đai đen của Karatedo, Taekwondo…

Vàng: Màu của da. Với ý nghĩa võ thuật và võ đạo đã bao trùm thân thể cho người môn sinh, bảo vệ vững chắc cho người môn sinh.

Khi xưa, Vovinam chỉ dạy cho người Việt, chưa du nhập ra quốc tế, nên màu vàng biểu thị cho màu da của người Việt, là người da vàng. Nay Vovinam chính thức quốc tế hóa, môn sinh da vàng, da trắng, da đen trên toàn thế giới, nên sửa thành “màu của đất” như trên.

Đỏ: Màu của máu. Với ý nghĩa võ thuật và võ đạo đã tiến sâu hơn một bước: “từ ngoài da đã thấm vào trong máu” của người môn sinh.

Trắng: Màu của xương. Với ý nghĩa võ thuật và võ đạo đã vào tận xương tủy, đã trở thành “cốt”. Đã đạt đến giới hạn thâm viễn nhất dành cho người đứng đầu môn phái

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

TƯ LIỆU : CON NGƯỜI VIỆT NAM TỪ THỜI PHÁP THUỘC ĐẾN KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Các nhà làm phim nước ngoài đã để lại cho chúng ta những kho tư liệu, hình ảnh, những thước phim quý về xã hội đời sống con người, hình ảnh chân thực về cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của toàn thể nhân dân Việt Nam.  Những điều ấy thật đáng quý và trân trọng biết bao…!

ĐÁM CƯỚI CỦA NGƯỜI VIỆT THẾ KỶ XIX – XX

Nguồn gốc: do ê kíp của Albert Kahn thực hiện.

Sưu tầm và lưu giữ: nhà sử học Dương Trung Quốc và KTS Đoàn Bắc

—————

VIỆT NAM THỜI KỲ THUỘC PHÁP ĐẾN KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TRƯỚC 1955

—————

LÀNG QUÊ MIỀN NAM – THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA(1955 – 1975)

—————

CON NGƯỜI MIỀN BẮC – VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA (1955 – 1975)

( đang cập nhật…)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO QUỐC GIA

Trong tình hình biển Đông và sự căng thẳng của vấn đề chủ quyền lãnh hải quốc gia trên vùng biển Đông ngày càng leo thang. Thì vai trò và nhiệm vụ gánh vác lại dồn hết lên vai quân chủng hải quân nhân dân Việt Nam. Hiểu rõ quyền chủ quyền biển đảo quốc gia nói chung, vai trò nhiệm vụ của hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng, là điều cần thiết để người dân Việt Nam đứng vững trên lập trường chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và tài nguyên biển đẹp giàu của chúng ta.

QUÂN CHỦNG HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM

Quân chủng Hải quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn gọi là Hải quân Nhân dân Việt Nam, là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng quân đội bảo vệ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Cơ quan chỉ huy là Bộ Tư lệnh Hải quân.

Hải quân Nhân dân Việt Nam có các binh chủng tàu mặt nước, Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân, tàu ngầm… nhưng không tổ chức bộ tư lệnh riêng.

Hải quân Nhân dân Việt Nam có các cấp đơn vị: hải đoàn, hải đội tàu, binh đoàn Hải quân đánh bộ, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần…).

Trụ sở Bộ Tư lệnh đặt tại thành phố Hải Phòng.

TRUYỀN THỐNG HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM

Bài hát : Lướt sóng ra khơi
Sáng tác : Thế Dương
Trình bày : Bích Toàn

Lời bài hát :

Dạt dào biển mênh mông, sóng vỗ nhịp thân tàu
Đoàn ta ra khơi tiếng máy reo vang tràn ngập tình đất nước quê hương
Nhìn bầu trời xanh tươi, tay súng ta không rời
Lướt sóng ra khơi rộn ràng khúc ca yêu đời

Ngoài khơi bát ngát gió reo vui
Biển rộng bao la đang tung lưới từng khoang cá đầy
Cờ biển của ta đây sức sống đang chan hòa
Vượt ngàn sóng gió ta ra khơi giữ yên quê nhà

Đoàn tàu vượt ra khơi, nắng mới đẹp chân trời
Vượt trên gian khó lớp lớp sóng xô lòng người càng thắm thiết yêu thương
Giặc thù hòng xâm lăng, tay súng ta sẵn sàng
Chiến đấu hi sinh lập nhiều chiến công huy hoàng

Ngày nay, chiến đấu cho tương lai
Biển trời quê hương trong sáng mãi thuyền vui lướt về
Vì cuộc đời mai đây, khó mấy ta không lùi
Đoàn tàu vượt sóng ta ra khơi giữ yên quê nhà.

Đoàn tàu vượt ra khơi, đoàn tàu vượt ra khơi, đoàn tàu vượt ra khơi.

Hải đoàn tàu không số.

Đoàn tàu không số (còn gọi ”Lữ đoàn vận tải 125 Hải quân”) là đoàn tàu vận tải quân sự đường biển thuộc Đoàn 759 Hải quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược, và hàng quân sự khác… vượt đường biển nhằm chi viện cho lực lượng vũ trang ở Nam Việt Nam và vận chuyển cán bộ bí mật vào chiến trường trong thời kỳ Chiến tranh Việt nam. Thủy thủ đoàn của các con tàu không số được tuyển chọn rất kỹ lưỡng về kinh nghiệm hàng hải, thể chất và chính trị. Trước khi làm nhiệm vụ họ được truy điệu sống và coi như đã hi sinh.

”Lữ đoàn 125” đã thực hiện hàng trăm chuyến đi biển trong điều kiện gian khổ, vận chuyển và bàn giao hàng nghìn tấn vũ khí, khí tài, đạn dược… cho các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trên các chiến trường: Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Liên khu 5. Đồng thời, đoàn đã trực tiếp tham gia rà phá thủy lôi ở vùng biển Đông Bắc; tham gia giải phóng các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa thuộc quần đảo Trường Sa, Cù Lao Thu thuộc tỉnh Ninh Thuận và đón các tù nhân cộng sản từ Côn Đảo trở về đất liền.

CÁC VÙNG HẢI QUÂN

Vùng Hải quân là tổ chức liên binh đoàn chiến dịch-chiến thuật của hải quân, phân chia theo lãnh thổ, gồm các binh đoàn, binh đội tàu mặt nước, không quân của hải quân, Hải quân đánh bộ, bộ đội phòng thủ đảo, pháo binh bờ biển và các đơn vị bảo đảm tác chiến (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần…).

Ngày 26 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 141/QĐ-QP thành lập 5 vùng duyên hải thuộc Bộ Tư lệnh hải quân và quy đinh phạm vi quản lý của 5 vùng. Đến năm 1978 giải thể vùng 2 và đổi tên vùng duyên hải thành vùng hải quân.

Bộ tư lệnh Vùng 1 (hoặc Bộ tư lệnh vùng A): Vịnh Bắc Bộ.quản lý vùng biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh và các đảo trong Vịnh Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Trụ sở Bộ chỉ huy: Hải Phòng

Bộ tư lệnh Vùng 2 (hoặc Bộ tư lệnh vùng B). quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Nam Bình Thuận đến Bạc Liêu và thềm lục địa phía Nam , trong đó có khu vực trọng điểm là vùng biển có các cụm kinh tế – khoa học – dịch vụ (gọi tắt là DK1) thuộc thềm lục địa phía Nam, gồm có các tỉnh: phía Nam của Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, và vùng biển phía Đông Nam của tỉnh Cà Mau (bao gồm cả nhà giàn DK1/10 ở bãi ngầm Cà Mau). Trụ sở Bộ chỉ huy: Nhơn Trạch (Đồng Nai).

Bộ tư lệnh vùng 3 (hoặc Bộ tư lệnh vùng C) quản lý cả đoạn giữa miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Định gồm các tỉnh là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định gồm các đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, Quần đảo Hoàng Sa, v.v.. Trụ sở Bộ chỉ huy: Đà Nẵng.

Bộ tư lệnh Vùng 4 (hoặc Bộ tư lệnh vùng D): Vùng 4 quản lý Quần đảo Trường Sa, đảo Phú Quý và vùng biển phía nam miền Trung, từ Phú Yên đến Bắc Bình Thuận gồm các tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và phía Bắc của Bình Thuận. Trụ sở Bộ chỉ huy: quân cảng Cam Ranh (Khánh Hòa).

Bộ tư lệnh Vùng 5 (hoặc Bộ tư lệnh vùng E): Vùng 5 quản lý vùng biển Nam biển Đông và vịnh Thái Lan thuộc vùng biển hai tỉnh Cà Mau (biển phía Tây Nam của Cà Mau) và Kiên Giang. Trụ sở Bộ chỉ huy : đảo Phú Quốc ( Kiên Giang)

CHỦ QUYỀN QUỐC GIA ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Tờ lệnh của thời Vua Minh Mạng khẳng định chủ quyền.

Tờ lệnh Ngày 15 tháng 4 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) của quan Bố chánh, Án sát tỉnh Quảng Ngãi gồm có bốn trang, mỗi trang dài 36cm, rộng 24cm. Tuy chỉ vỏn vẹn có 04 trang nhưng Tờ lệnh chứa đựng nhiều thông tin quý, góp thêm một bằng chứng rằng đã từ lâu (từ trước năm 1834) Hoàng Sa đã thuộc phạm vi cai quản của Việt Nam. Tờ lệnh nêu rõ danh tính, quê quán của từng binh thuyền vâng mệnh triều đình đi lính Hoàng Sa không chỉ riêng ở huyện đảo Lý Sơn mà còn ở các vùng quê ven biển khác tại Quảng Ngãi, “Thủy thủ: Tên Đề Phạm Vị Thanh người phường An Hải; Tên Trâm Ao Văn Trâm, người Lệ Thủy Đông (hai tên); Tên Sơ Trân Văn Kham, người phường An Vĩnh; Tên Xuyên Nguyễn Văn Mạnh, người phường An Hải; Tên Lê Trần Văn Lê, người ấp Bản An; Tên Doanh Nguyễn Văn Doanh, người thôn Thạch Ốc An Thạch huyện Mộ Cách. Từ đội Kim Thương đưa sang 2 tên: Vũ Văn Nội; Trương Văn Tài”.

Tờ lệnh còn xác thực thêm những thông tin ghi chép trong các bộ chính sử của triều Nguyễn về ông Võ Văn Hùng, là người có công đi Hoàng Sa trong nhiều năm. Văn bản còn thể hiện về cách thức tổ chức của đội Hoàng Sa, thủy quân Hoàng Sa, phiên chế, cách tuyển chọn, thời gian xuất hành…

Tờ lệnh còn giúp khẳng định rằng mỗi năm vua Minh Mệnh đều có điều bao nhiêu thuyền và lính ra Hoàng Sa. Đó là việc rất quan trọng, được phối hợp hoạt động chặt chẽ từ trung ương đến địa phương trong việc lập bản đồ, cắm mốc chủ quyền, trồng cây và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Nó kéo dài suốt nhiều năm và rất nhiều hải đội người Việt đã nối tiếp nhau có mặt ở Hoàng Sa. Họ thường đi trên ghe bầu rộng khoảng 3m, dài 12m, chở được 8 – 12 người, mang theo lương thực đủ dùng trong sáu tháng và cả nẹp tre để bó thi thể khi hi sinh. Trước khi đi, địa phương đã làm lễ tế sống họ. Nhiều hải đội đã anh dũng ra đi không trở về mà chứng tích hiện vẫn còn lưu lại nhiều ở các địa phương ven biển đặc biệt là ở Lý Sơn.

Tờ lệnh này đã bổ sung vào kho tư liệu lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và kết nối logic với hệ thống tư liệu quý cùng nhiều di tích liên quan đến hải đội Hoàng Sa, quần thể mộ lính Hoàng Sa, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa… chứng tỏ từ nhiều thế kỷ trước tổ tiên người Việt Nam đã giong thuyền ra Biển Đông để cắm bia khẳng định chủ quyền và bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.

“Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” – 1904 của Trung quốc không có Hoàng Sa và Trường Sa.

TS Phan Văn Hoàng nói: “Lẽ ra chuyện này các cơ quan chức năng phải làm từ lâu nhưng hiện vẫn chưa thấy làm hoặc chưa công khai rộng rãi. Tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” xuất bản năm 1904 của Trung Quốc chỉ là một trong những tư liệu quý mà chúng ta đang có.Trong giới nghiên cứu tư nhân cũng có nhiều người đã nghiên cứu và sở hữu nhiều bản đồ, tư liệu quý giá về chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa – Trường Sa, như nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phạm Hồng Quân, nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo… Những tư liệu này có phần đã công bố nhưng cũng có cái chưa có điều kiện đưa ra”.Các nhà nghiên cứu Việt Nam từng tiếp cận nhiều bản đồ khác của Trung Quốc như “Hoàng triều dư địa toàn đồ” (1728-1729), “Hoàng triều nhất thống dư địa toàn đồ” (1894) và gần hơn nữa là “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” (1905)… đều vẽ biên giới phía nam Trung Quốc dừng ở đảo Hải Nam. Điều này cũng phù hợp với sử sách của Trung Quốc, như sách Đại Thanh nhất thống chí (1842) nói rõ cực nam của Trung Quốc là núi Nhai (Nhai Sơn hay Thiên Nhai Sơn) nằm phía nam Nhai Châu (đảo Hải Nam) ở vị trí 18030’ vĩ độ bắc.

(còn nữa)

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

NỮ DÂN QUÂN LÀNG ĐỎ BẮN RƠI MÁY BAY

O du kích ngày ấy…

Ngồi nghe bà kể về cuộc đời đấu tranh của mình và cùng xem lại những kỷ vật chiến tranh, chúng tôi như được sống lại quá khứ hào hùng của những thế hệ đi trước. Ở họ có ý chí quật cường và đức hi sinh to lớn. Cũng trong câu chuyện đó tôi thầm khâm phục những người phụ nữ của một thời hoa lửa.

Từ năm 1966 – 1968, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc ác liệt. Trước tình hình đó, Ban chấp hành Đảng ủy xã Hưng Dũng, TP Vinh quyết định thành lập đội trực chiến chiến đấu cơ động. Đơn vị là một trung đội dân quân du kích gồm 9 nữ, 3 nam thường trực 24/24 giờ ngày đêm ăn ngủ tập trung với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Năm 1967, cô gái Nguyễn Thị Dần vừa tròn 17 tuổi đã xung phong vào Trung đội dân quân trực chiến phòng không xã Hưng Dũng.

Cùng với đồng đội chị đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường với quyết tâm bảo vệ các trọng điểm như phà Bến Thủy, nhà máy điện, kho xăng, Thành ủy Vinh. Trải qua một thời gian huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu phục kích địch, đơn vị đã 2 lần tham gia bắn bị thương máy bay A6, F4H.

“Ngày 23/6/1968, đơn vị trực chiến Hưng Dũng đã bắn cháy máy bay F4 của giặc Mỹ tại bãi bồi sông Lam, tên giặc lái bỏ trận nhảy dù chờ đồng đội đến giải cứu. Lúc đó, máy bay địch đã ném bom xối xả xuống trận địa nhưng lực lượng du kích với tinh thần chiến đấu anh dũng và quyết tâm cao độ cuối cùng chúng tôi cũng bắt sống được tên giặc lái và mang về giao cho Thành đội Vinh” – bà Dần ôn lại quá khứ hào hùng.

Trong trận trực chiến bảo vệ cuộc bầu cử HĐND các cấp ngày 28/4/1968, trận địa bị trúng bom, bà và một số anh em bị thương được đồng đội đưa về tuyến trạm xá cấp cứu. Sau một tuần điều trị, bà lại tiếp tục trở về cùng đơn vị chiến đấu. Với vai trò là xạ thủ số một, cô gái tuổi mười tám đôi mươi lúc ấy đã trở thành một biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, kiên cường trên đất làng Đỏ anh hùng.

Ngày 25/7/1968 đã đi vào huyền thoại với những trang sử oanh liệt nhất khi trung đội trực chiến hạ gục chiếc máy bay F4H ngay tại chỗ giáp xã Nghi Phú. Trong đó Nguyễn Thị Dần đã trực tiếp cầm khẩu K53 siết cò làm chiếc máy bay chao đảo trước khi rơi xuống trong tiếng hò reo không ngớt của đồng đội. “Lúc đó chúng tôi ôm nhau khóc nức nở khi môi vẫn nở nụ cười chiến thắng. Trong tim chỉ còn nghe nhịp đập của Tổ quốc thân yêu”, bà Dần xúc động.

Nữ  dân quân làng Đỏ Nguyễn Thị Dần bắn rơi máy bay Mỹ

Năm 1971, lực lượng dân quân Hưng Dũng được Nhà nước phong tặng danh hiệu: Dân quân du kích làng Đỏ anh hùng. Với cảm hứng từ hình ảnh cô dân quân Nguyễn Thị Dần, nhạc sĩ Nguyên Nhung đã sáng tác ca khúc “Cô dân quân làng Đỏ” cùng hình ảnh thanh cao, đẹp đẽ của cô gái tuổi mười tám đôi mươi khỏe khoắn, ngoan cường.

Sau trận bắn rơi máy bay địch, Nguyễn Thị Dần cùng đồng đội đã tiếp 18 đoàn báo chí khắp nơi trên thế giới đến tìm hiểu. Sau đó, bà được mời đi kể chuyện tại các lớp học nhằm giáo dục lòng yêu nước cho các thế hệ trẻ Việt Nam. Tháng 7 đến tháng 9 năm 1971, Nguyễn Thị Dần được Quân ủy Trung ương mời đi tham quan các nước XHCN ở Liên Xô. Khi được lãnh đạo cấp cao nước bạn hỏi: “Tại sao đồng chí du kích không mang theo súng” thì Nguyễn Thị Dần đã tự tin bắt tay và trả lời: “Kính thưa đồng chí Chủ tịch. Vì được sang thăm đất nước Liên Xô là đất nước XHCN không có chiến tranh nên không phải mang vũ khí. Còn ở đất nước Việt Nam đang trong tình trạng chiến đấu nên chúng tôi phải luôn ở trong tư thế sẵn sàng”. Vị lãnh đạo của Xô Viết đã khen ngợi đó là câu trả lời của một con người anh hùng từ đất nước Việt Nam anh hùng.

… và bây giờ

Sau gần 3 năm trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước, ngày 5/10/1968, Nguyễn Thị Dần được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Chiến tranh kết thúc, bà trở về cống hiến cho quê hương làng Đỏ. Được sự tín nhiệm của lãnh đạo và nhân dân nên bà liên tục giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền xã Hưng Dũng. Năm 21 tuổi, bà trở thành đại biểu HĐND trẻ nhất tỉnh Nghệ An, đồng thời là đại biểu Đại hội Mặt trận Trung ương khóa 3.

Sau đó bà từng làm việc ở văn phòng Đảng ủy, văn phòng phụ nữ, hợp tác xã. Năm 1982 là Ủy viên UBND xã Hưng Dũng. Tháng 11/1986, bà được bầu làm Chủ tịch UBND xã rồi phường Hưng Dũng. Đến năm 1995, bà được cử đi học nâng cao nghiệp vụ tại Trường Chính trị Nghệ An. Hai năm sau đó người chồng thân yêu của bà đột ngột ra đi trong một vụ tai nạn.

Bà Dần chia sẻ về những năm tháng hào hùng

Nén nỗi đau tột cùng bà gượng dậy vừa hoàn thành khóa học, vừa kiếm đủ nghề nuôi dạy 4 người con ăn học và chăm sóc mẹ chồng tuổi ngoài 80 làm tròn chữ hiếu. Thời kỳ khó khăn, gian khổ rồi cũng qua đi. Đời lính đã rèn luyện cho bà biết cách chấp nhận số phận để vượt lên hoàn cảnh mà sống. Các con của bà Dần giờ đây đều đã thành đạt và có gia đình hạnh phúc.

Hàng ngày quây quần bên con cháu bà cảm nhận được niềm vui của người phụ nữ đã đi qua ngưỡng nửa đời người. Hiện tại bà đang được hưởng chế độ thương binh 4/4 và là bí thư chi bộ khối Tân Phúc. Như cánh chim không mệt mỏi, giờ đây bà lại tiếp tục mang tâm huyết của mình cống hiến cho quê hương làng Đỏ thân yêu.

Chia tay bà khi bóng chiều ngả xuống, hương ngọc lan vẫn thơm ngát một góc vườn. Chúng tôi nghe văng vẳng đâu đây những câu hát gắn với một thời hào hùng đầy kỷ niệm. Ở nơi đó hình ảnh cô dân quân Nguyễn Thị Dần ôm súng bắn rơi máy bay Mỹ đã tạc vào lịch sử với dáng hình đẹp nhất: “Em đi tiếp đạn lên núi, em xông pha giữa chiến hào và tiếng súng em gầm vang trong lửa khói vạch từng đường đạn sáng rực trời cao. Ngày theo vết đường cày, đêm về xây đường đắp ụ, nắng dù sém má em, mưa gió dãi dầu lòng vẫn vui như pháo hoa đỏ rọi, đánh thắng quân thù trên mảnh đất quê hương. Hỡi cô gái thân thương dũng cảm ngoan cường”.

Tác giả : Ngọc Anh

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

CÁC CỤ DÂN QUÂN BẮN RƠI MÁY BAY MỸ NHƯ THẾ NÀO ?

Bài hát : Hát mừng các cụ dân quân
sáng tác : Đỗ Nhuận
Trình bày : Mạnh Hà – Kim Quý

Lời bài hát :

Lời 1:
Loa vang tin khắp nơi, các cụ vừa hạ rơi máy bay.
Những cây súng bộ binh rất tài nhằm trúng tan xác ngay giữa biển trời.
Tuổi cao trí càng cao, sẵn sàng chiến đấu khiến quân giặc Mỹ điên đầu.
Sóng vỗ ngoài khơi, khắp làng xóm mừng vui.
Hỡi dô trên đất này có những cụ già bắn rơi máy bay.
Hỡi dô trên đất này có những cụ già bắn rơi máy bay.

Tin vui vang núi sông, bác Hồ gửi thư khen chiến công. Đất ta các cụ xưa anh hùng, Hoằng Hoá tô thắm thêm đất lửa Hàm Rồng. Tuổi cao trí càng cao, đêm ngày nung nấu, bắt quân giặc Mỹ cúi đầu. Sóng reo biển Đông vẫy chào các cụ ông. Hỡi dô chiến thắng này có cụ bà giúp thêm cánh tay. Hỡi do chiến thắng này có cụ bà giúp thêm cánh tay.
Lời 2:
Nghe tin vui khắp nơi, các cụ vừa hạ thêm chiếc nữa rơi.
Rứa mới là dân quân tài, thầm sấm, con Ma cũng bỏ đời. B
iển sâu núi càng cao nức lòng trai gái, thiếu niên phụ lão anh hùng.
Quyết tâm lập công theo gương các cụ ông.
Hỡi dô ta đánh giặc có trẻ già gái trai rất đông.
Hỡi dô ta đánh giặc có trẻ già gái trai rất đông.
Ai vô Thanh Hoá coi, mát lòng trẻ già vui khắp nơi.
Nắng mưa các cụ đi không ngại, sườn núi nheo mắt canh giữ biển trời.
Tuổi cao trí càng cao, tay cày tay súng, bước theo truyền thống anh hùng.
Áo thấm mồ hôi nhưng lòng các cụ vui.
Hỡi dô trên luống cày tóc cụ bà phất phơ gió bay.
Hỡi dô trong phút này mắt cụ già vẫn canh máy bay.
Hêy
———————————-
CÁC CỤ DÂN QUÂN HOẰNG TRƯỜNG BẮN RƠI MÁY BAY NHƯ THẾ NÀO ?

Ngày các cụ dân quân xã Hoằng Trường (Hoằng Hóa) dùng súng trường bộ binh bắn rơi chiếc máy bay F4 của không quân Mỹ (14-10-1967); rồi lại phối hợp bắn rơi chiếc AD6 (24-10-1967) cách đây đã 40 năm. Những tay súng cao tuổi thời ấy đa số đã về “thế giới bên kia”. Những người lúc đó mới “ngoại tứ tuần” như cụ Nguyễn Hữu Đởn, Cao Văn Lanh, Vũ Bá Trệu, Nguyễn Thị Hiệu, Đặng Thị Yên, giờ đây cũng đã vào tuổi “bát tuần”.
… Ngày ấy, cả Hoằng Trường là trận địa đánh địch. Xã có sơ đồ chống chiến tranh phá hoại, chấm điểm đỏ, điểm xanh, dự đoán chỗ nào địch có thể đánh phá để triển khai các phương án tổ chức diễn tập trong phạm vi toàn xã. Những ngày đầu tháng 10-1967, máy bay Mỹ liên tục bắn phá các địa phương trên miền Bắc và Thanh Hóa. Lúc đầu, nhân dân cũng có tâm lý hoang mang lo sợ. Trước tình hình đó, công tác lãnh đạo của đảng bộ, chính quyền phải tập trung giải quyết tốt vấn đề tư tưởng, vận động người già, trẻ nhỏ đi sơ tán, thanh niên trai tráng đào hầm hào, công sự sẵn sàng chiến đấu. Công tác chuẩn bị cơ bản hoàn tất, đảng ủy, UBND tổ chức lễ ra mắt lực lượng tự vệ, trong đó có Trung đội lão dân quân. Trong ngày ra mắt cán bộ tỉnh, huyện xuống phát động, động viên toàn dân sẵn sàng chiến đấu đánh trả máy bay địch. Những ngày tiếp theo, trận địa của các lão dân quân Hoằng Trường sôi động hẳn lên. Người trực chiến, người lo công tác hậu cần, người giữ gìn trật tự trị an trong thôn xóm.

Ngày 12 và 13-10-1967, nhiều lượt máy bay Mỹ từ phía Hạm đội 7 bay vào đánh phá đất liền rồi lại vội lao ra biển. Ngày 14-10-1967, khi nhận được thông báo sẵn sàng chiến đấu, cùng với các lực lượng khác, các lão dân quân Hoằng Trường cũng vào trận địa. Mũ rơm đội đầu, mỗi người vào một vị trí sẵn sàng nhả đạn. Nửa chiều, lợi dụng lúc nắng “xiên khoai” máy bay Mỹ lại từ biển ập vào đánh phá Hàm Rồng. Gặp lưới lửa phòng không nhả đạn, nhiều chiếc trút bom bừa bãi để tháo chạy. Từ trận địa ở lưng chừng núi, phát hiện máy bay Mỹ tháo chạy ra hướng biển, súng phòng không của các lão dân quân bắt đầu nhả đạn đón đầu. Trong nháy mắt, chiếc máy bay chao đảo, ngả nghiêng, phụt ra một vệt lửa dài lao ra hướng biển. Chẳng nghĩ là chiến công của mình nhưng cả trận địa vang dậy tiếng hoan hô. Đến khi các đài quan sát, rồi thông tin trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam thông tin, xác định, chiếc máy bay F4 thứ 2.400 bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc là do những tay súng bộ binh của lão dân quân Hoằng Trường bắn hạ thì cả xã, cả huyện, cả tỉnh đều vui mừng.

Ngày 24-10-1967, máy bay địch lại bay vào ném bom đất liền. Sau khi lao xuống trút bom, chúng chuồn luôn ra biển. Chiếc thứ nhất vút qua, mấy phút sau, chiếc thứ hai lao đến. Khi vào đúng tầm bắn súng phòng không, các cụ lại đồng loạt nhả đạn. Cùng thời điểm này, nhiều trận địa cũng đồng loạt giăng lưới lửa bắn máy bay, bắt thêm 1 chiếc AD6 phải đền tội. Bạn bè trong nuớc, quốc tế nức lòng khen ngợi chiến công của các lão dân quân Hoằng Trường, có một không hai ở tỉnh Thanh.

40 năm sau ngày các cụ dân quân dùng súng trường bộ binh bắn rơi máy bay Mỹ, hôm nay Hoằng Trường đã có nhiều đổi thay. Công cuộc đổi mới thực sự đã làm cho Hoằng Trường khởi sắc. Vẫn biết, trong bộn bề khó khăn chưa thể giải quyết hết đề xuất, kiến nghị của người dân trong một sớm, một chiều. Nhưng mong rằng trong tương lai không xa, trên đất Hoằng Trường có một Tượng đài lão dân quân; Đài tưởng niệm 54 chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu ác liệt ngày 5-8-1964 để thể hiện tấm lòng tri ân đối với những thế hệ đi trước…

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

BÀI HÁT CÂY LÚA HÀM RỒNG

CÂY LÚA HÀM RỒNG

Sáng tác: Đôn Truyền.
Trình bày: Anh Thơ

1-
Hôm nao cây lúa ven cầu dưới ánh đèn dù soi sáng đêm thâu
Dòng sông Mã soi bóng nhịp cầu có những đoàn tàu hối hả về Nam
Sao đêm đêm nghe náo nức đây tiếng con tàu hay tiếng tim em
Ơi cây lúa quê mình xanh biếc nhớ thương.
Ơ ớ… Ai đi phương Nam ai về phương Bắc
Cầu ta vẫn chắc nối mạch yêu thương
Như lúa em vẫn đứng thẳng hàng
Cũng vì thương nhớ miền Nam.
Ai đi nơi xa nhớ tình cây lúa tháng ngày xanh tốt giữa nơi đây
Trên quê em đất lửa Hàm Rồng.
2-
Em san lấp hố bom này cho những đường cày thẳng tắp vươn xa
Dòng sông Mã vang tiếng ai hò thấp thoáng buồm về nắng đượm chiều nay
Ôi quê hương trong tiếng súng vẫn sáng tươi màu, vẫn đứng hiên ngang
Ơi sông Mã núi Rồng tươi thắm chiến công.
Ơ ớ… ơi con sông xa Thu Bồn nước mát, hòa chung tiếng hát với đồng quê ta
Bao máu xương thấm đất ruộng cày, lúa này nặng những phù sa ơ ờ.
Đây quê hương ta bên dòng sông Mã tấm lòng son sắt vẫn trung kiên
Qua gian lao vẫn nổi câu hò
(Là hò hò hơ… ơi hò..hò..hơ..ơ..hò Hàm Rồng ơi ơ ơi).

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận
 
 

NHỮNG BÀI HÁT THỜI KỲ CHỐNG BÀNH TRƯỚNG TRUNG QUỐC 1979

Chưa kịp vui trọn vẹn một mùa xuân độc lập – tự do, đất nước lại bước vào cuộc chiến mới gian nan khốc liệt ở hai miền biên giới Tây Nam và Phía Bắc năm 1979. Thế kỷ XX, đối với người Việt Nam là thế kỷ của máu và nước mắt. Chưa bao giờ, bà mẹ Việt Nam lại khóc dài đến cạn nước mắt, lần lượt tiễn đưa hết chồng, con đến người cháu ruột theo tiếng gọi của quê hương, ra đi không hẹn ngày về như thời kỳ ấy. Và đó là mạch nguồn cảm xúc để những Phạm Tuyên, Mạnh Thường viết nên những khúc tráng ca một thời cả nước ra trận.

Bài hát: Hãy cho tôi lên đường

Sáng tác: Hoàng Hiệp

Trình Bày: Ái Vân
Tháng 3/1979

lời Việt:

hãy cho tôi lên đường !
Cho tôi lên đường về miền biên cương mịt mù khói súng.
hãy cho tôi lên đường !
tôi đi tiêu diệt giặc thù xâm lăng bảo vệ đất nước
hãy cho tôi lên đường !
tôi đi hỏi tội lũ quân phản bội đổi trắng thay đen gian ác vô chừng.
làm sao có thể ngồi yên
khi người bạn tôi đã chết đạn thù xuyên qua tim.
trái tim nồng nàn tình yêu đất nước
làm sao có thể bình yên
đi bên người yêu đêm đêm
khi bao nhà tan cửa nát,
tội ác không đếm được
quân cướp Bắc Kinh reo giắc không ngừng.
hãy cho tôi lên đường !…

English

Let me hit the road
Let me the road
go to the border
gloomy gun smoke.
let me hit the road
destroy the enemy invading enemy
defend the country
let me hit the road
I would ask crimes
Flood Force betrayal
Change black and white instead
wicked very long
how can we sit
when my friend died.
enemy bullets through the heart.
heart passionate love country
How can peace
People love to party every night
how the tan door when crushed,
crime does not count
Beijing jack robbers rang incessantly.
let me hit the road

————————-

Bài hát: Việt Nam muôn thuở mồ chôn quân thù

Sáng tác: Nguyễn Mạnh Thường.

Thể hiện: NSUT Quang Hưng và Dàn nhạc Đài TNVN (1979)

Lời bài hát :

Giặc xâm lăng nói đất này đất của Trung Hoa bởi chứa trong lòng đất xương cốt ông cha đã chất chồng. Quân xâm lăng bay biết không ? Muốn tìm xương cốt cha ông, sao chỉ ở Hoàng Sa, đảo nhỏ quê ta, sóng dềnh, biển gào. Hãy đến Đông Đa, hay tới Chi Lăng, hay tới Bạch Đằng nơi bao hồn oan vất vưởng… Hãy đến đây, xương chất sẽ càng cao. Dù 50 vạn, hoặc nhiều hơn . Đụng đến Việt Nam thành đồng lũy thép, thế hiên ngang muôn thuở là mộ chôn lũ quân thù…

( đang cập nhật )

Categories: TỔNG HỢP, TƯ LIỆU VIDEO | Tags: | Để lại bình luận

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: